Xem Nhiều 12/2022 #️ Triệu Chứng Và Nguyên Nhân Viêm Đường Hô Hấp Trên Ở Trẻ Em / 2023 # Top 19 Trend | Ieecvn.com

Xem Nhiều 12/2022 # Triệu Chứng Và Nguyên Nhân Viêm Đường Hô Hấp Trên Ở Trẻ Em / 2023 # Top 19 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Triệu Chứng Và Nguyên Nhân Viêm Đường Hô Hấp Trên Ở Trẻ Em / 2023 mới nhất trên website Ieecvn.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Cảm lạnh hay còn gọi là bệnh viêm đường hô hấp trên, là căn bệnh thường gặp ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Hầu hết các bé sẽ mắc khoảng 8 -10 lần cảm lạnh trong 2 năm đầu đời.

Những ngày cuối đông đầu xuân, trời lạnh hơn bình thường, các anh chị em họ của tớ thấy rất thích vì được xúng xính mặc quần áo ấm và được nhận bao nhiêu là quà từ những ngày lễ hội liên tiếp như Giáng sinh, Tết Tây, rồi đến Tết Ta,…

Riêng tớ thì chả thích thú tẹo nào! Vì đây là khoảng thời gian tớ thường dễ bị cảm lạnh nhất.

Cảm lạnh, hay còn gọi là bệnh viêm đường hô hấp trên, là bệnh mà tớ cũng như các bạn nhỏ dễ bị mắc phải nhiều hơn những bệnh khác. Trong hai năm đầu đời, hầu hết chúng mình sẽ mắc từ 8 đến 10 lần cảm lạnh. Tớ thì bị vượt mức hơn ấy, vì tớ rất dễ bị lây từ các bạn khác ở nhà trẻ, hu hu. Bệnh này rất dễ lây lan từ bạn nhỏ này qua bạn nhỏ khác mà. ­­­

Triệu chứng của bệnh viêm đường hô hấp trên ở trẻ em

Khi tớ bị cảm lạnh, các triệu chứng bệnh của tớ là:

Hắt hơi, sổ mũi. Triệu chứng này rất ư là khó chịu! Đầu tiên, nước mũi có màu trong, sau đó đặc lại và thường có mùi.

Hắt hơi, sổ mũi là triệu chứng đặc trưng của bệnh viêm đường hô hấp trên

Sốt nhẹ (từ 38-390C) đặc biệt là vào buổi tối.

Đôi lúc tớ có cảm giác khó chịu nên trở nên cáu kỉnh

Tớ ho nhiều và nổi hạch ở cổ.

Triệu chứng nặng nhất mà tớ từng biểu hiện đó là có mủ ở amidan. Đây có thể là dấu hiệu của viêm nhiễm

Nói chung, bệnh cúm nghiêm trọng hơn rất nhiều so với (cảm lạnh) và thông thường thì cúm sẽ xuất hiện các triệu chứng như sốt, đau nhức cơ thể, cực kỳ mệt mỏi, ho khan dữ dội. Cảm lạnh thường có triệu chứng nhẹ hơn cúm. Và mẹ thường “bắt bệnh” cho tớ nhờ vào bảng so sánh này:

Sốt nhẹ hoặc không sốt

Sốt cao

Thỉnh thoảng bị đau đầu

Thường bị đau đầu

Chảy mũi, nghẹt mũi, hắt hơi

Chỉ thỉnh thoảng xảy ra nghẹt mũi, chảy mũi, hắt hơi

Ho khan nhẹ

Ho, có thể ho dữ dội

Đau nhức nhẹ

Thường đau nhức khá nghiêm trọng

Hơi Mệt mỏi

Trẻ khá mệt mỏ, tình trạng này có thể kéo dài

Đau họng

Thỉnh thoảng bị đau họng

Sức khỏe của trẻ dường như bình thường

Trẻ bị kiệt sức

Nguyên nhân gây bệnh viêm đường hô hấp trên (cảm lạnh)

Có rất nhiều loại vi-rút là nguyên nhân gây ra bệnh cảm lạnh cho tớ, nhưng thường gặp nhất là dòng rhinovirus. Một cái hắt hơi hay một cơn ho của bạn nào đấy cũng có thể là nguồn lây lan vi-rút tới tớ và mọi người. Ngoài lây lan trực tiếp, vi-rút còn có thể lây lan gián tiếp qua những người trung gian (còn gọi là lây nhiễm chéo):

Người bệnh ho, hắt hơi và truyền một lượng nhỏ vi-rút lên tay (hay cơ thể) của một người trung gian.

Người trung gian tiếp xúc tay với người khỏe mạnh.

Người khỏe mạnh này đưa tay vừa bị nhiễm vi-rút lên mũi, bắt đầu làm cho vùng bị nhiễm lan rộng sang những nơi bệnh có thể tăng nhanh và phát triển, như mũi hoặc họng.

Và thế là người khỏe mạnh (như tớ trước đây!) đã thành người bệnh (như tớ bây giờ) đấy các bạn ạ!

Chu kỳ lây truyền này có thể lặp lại, và vi-rút cứ truyền từ người này sang người khác hoặc qua người trung gian tới người khác. Bệnh cảm lạnh cứ thế mà mặc sức lây lan. Nhưng cũng thật là may vì bệnh này cũng dễ khỏi thôi ấy mà.

Bệnh Viêm Đường Hô Hấp Trên Ở Trẻ / 2023

Các biểu hiện và biến chứng của bệnh viêm đường hô hấp trên ở trẻ

Viêm đường hô hấp trên được chia thành 2 loại: viêm đường hô hấp trên cấp tính và viêm đường hô hấp trên mạn tính.

Viêm đường hô hấp trên cấp tính:

Bệnh thường xảy ra khi có một số yếu tố thuận lợi tác động vào như thay đổi thời tiết từ nóng sang lạnh; uống nước quá lạnh hoặc nước đá, kem; nằm, ngồi trước luồng gió lạnh của quạt hoặc điều hòa nhiệt độ… Triệu chứng gặp đầu tiên là sốt (có thể sốt nhẹ, đôi khi sốt cao kèm theo rét run), kèm theo sốt là ho, hắt hơi và chảy nước mũi. Cơn ho có khi chỉ húng hắng, có khi ho liên tục. Bệnh nhân là người lớn hoặc trẻ em lớn còn có triệu chứng bị đau họng khi nuốt, khi ăn. Chảy nước mũi là triệu chứng hay gặp, đặc biệt là ở trẻ nhỏ.

khi bị viêm đường hô hấp trên cấp tính mà không được điều trị hoặc điều trị không dứt điểm thì rất dễ dàng chuyển thành viêm đường hô hấp mạn tính. Triệu chứng của viêm đường hô hấp trên mạn tính là ho húng hắng, rát họng, nuốt thấy hơi vướng như có vật gì nằm trong họng, đặc biệt ở trẻ em là chảy nước mũi thường xuyên (một hoặc cả hai bên mũi). Một số trẻ em bị VA mạn tính kéo dài mà căn nguyên do trực khuẩn mủ xanh (Pseudomonas aeruginosa) thì chất nhày chảy ra ở mũi thường có màu xanh mà người ta hay gọi là “thò lò mũi xanh”. Ngoài thò lò mũi xanh, trẻ ngủ thường ngáy, thở bằng mồm. Ở người lớn, ngoài triệu chứng điển hình là rát họng, nuốt vướng còn có nghẹt mũi (một bên hoặc cả hai) do hiện tượng phì đại cuốn mũi… Trong những trường hợp viêm xoang thường có kèm theo triệu chứng đau đầu…

Viêm đường hô hấp trên không phải là một bệnh mà là một tổ hợp bệnh bao gồm: cảm lạnh, viêm mũi họng, viêm họng, viêm xoang, viêm thanh quản. Mặc dù có nhiều bệnh đơn lẻ khác nhau nhưng chúng đều có một số biểu hiện chung rất dễ nhận thấy. Những triệu chứng chủ yếu bao gồm: sốt cao, hắt hơi, sổ mũi, chảy mũi, ngạt mũi, tắc mũi, đau rát họng, ho, khàn tiếng, lạc tiếng, giọng mũi, khản đặc có khi mất tiếng, mệt mỏi, đau đầu, đau mỏi cơ khớp…

Đặc điểm quan trọng của viêm đường hô hấp trên ở trẻ em là thời gian ủ bệnh ngắn, tốc độ biểu hiện bệnh nhanh và các biểu hiện mang tính ồ ạt. Chính vì thế mà sốt trong các bệnh của viêm đường hô hấp trên thường là sốt cao và thành cơn. Thân nhiệt thường là 39oC trở lên. Đi kèm với sốt là hắt hơi, sổ mũi, trẻ hắt hơi nhiều hơn mức bình thường, có khi đến 4-5 cái/một lần và xuất hiện nhiều lần trong ngày. Có khi hắt hơi đến rát cả mũi họng. Sau đó trẻ sẽ bị chảy dịch mũi với đặc điểm dịch nhiều, trong, loãng, không có mủ và không có mùi hôi.

Khi virus gây bệnh ở thanh quản thì trẻ sẽ bị khàn tiếng. Càng nói nhiều thì tốc độ khàn tiếng càng nhanh và càng nặng. Ban đầu chỉ là lạc tiếng, giọng mũi, sau đó tiếng bị khàn đục và có khi đến mất giọng.

Tuỳ thuộc vào cơ quan bị bệnh mà mỗi một mặt bệnh cụ thể đơn lẻ sẽ có những dấu hiệu điển hình và đặc thù khác nhau. Mặc dầu vậy, vì lý do giữa các bộ phận mũi-họng-thanh quản-xoang đều thông với nhau bằng đường khí và dịch nên khi một cơ quan bị bệnh thì nó sẽ nhanh chóng lây sang cơ quan liền kề và các triệu chứng sẽ nhanh chóng tổ hợp lại thành một hình ảnh bệnh lý đầy đủ.

Viêm đường hô hấp trên ở trẻ đa phần là những bệnh tự khỏi, chỉ sau 5-6 ngày là bệnh đã bắt đầu lui dần tiến tới khỏi sau 2 tuần. Mặc dù các bệnh này có mức độ lâm sàng trung bình nhưng lại là những căn bệnh phổ biến nhất khiến chúng ta phải ngừng lao động và trẻ em thì không thể đến trường và có thể nặng lên ở những đối tượng mẫn cảm như trẻ em dưới 1 tuổi, người già, người bị suy giảm miễn dịch và gây nhiều biến thể nghiêm trọng.

Một trong các biến thể nghiêm trọng ấy là tử vong do đồng nhiễm với bệnh đường hô hấp dưới và chúng tự làm nặng lẫn nhau. Biến thể cũng hay gặp đó là biến chứng viêm đường hô hấp dưới nếu viêm đường hô hấp trên không được xử trí đúng đắn và đúng mức. Do đó, với một bệnh hết sức thông thường như cảm lạnh trong mùa đông thì có thể đưa đến viêm phổi, nhất là ở trẻ em. Ngoài những biến chứng này thì viêm đường hô hấp trên thể nặng, thể do vi khuẩn dễ gây ra những biến chứng cơ thể khác như viêm não, viêm tim, viêm cầu thận, thấp khớp cấp. Vì vậy cần có thái độ dự phòng đúng mức với bệnh này.

Mùa hè, thời tiết diễn biến phức tạp, nắng nóng kéo dài làm cho nhiều loại bệnh xuất hiện ở mọi lứa tuổi, nhưng đáng lo ngại nhất là trẻ em. Bệnh viêm đường hô hấp cấp tính, đặc biệt là đường hô hấp dưới là một bệnh đang có xu hướng gia tăng làm cho số trẻ mắc bệnh ngày càng nhiều và diễn biến rất phức tạp, khó lường.

Các chuyên gia trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe trẻ em đưa ra lời khuyên: Khi thời tiết nắng nóng, các bậc phụ huynh cần quan tâm chăm sóc trẻ, không cho trẻ ra ngoài nắng nhất là lúc nắng gay gắt. Đối với trẻ lớn, không cho trẻ chơi hoặc không cho trẻ đá bóng ngoài trời lúc còn nắng nóng. Không cho quạt xoáy thẳng vào trẻ khi trẻ chơi hoặc đang nằm ngủ. Không cho trẻ ở trong phòng máy lạnh có nhiệt độ chênh lệch vượt quá xa nhiệt độ trong nhà và ngoài trời (ngay cả trẻ lớn) và cần có chế độ dinh dưỡng tốt cho trẻ. Hạn chế cho trẻ ăn kem hoặc uống nước có đá. Khi nghi trẻ bị sốt cần cặp nhiệt độ cho trẻ, không nên dùng tay của người lớn sờ vào trán của trẻ rồi dự đoán trẻ sốt hay không. Khi nhiệt độ vượt quá 37,5ºC cần làm giảm thân nhiệt cho trẻ bằng cách lau nước ấm (nhiệt độ của nước thấp hơn nhiệt độ của trẻ khoảng 2 độ) ở trán, nách, bẹn và cần cho trẻ uống nhiều nước. Nước uống tốt nhất là nước cam, chanh tươi, dung dịch orezol, tùy theo độ tuổi mà cho uống liều lượng thích hợp.

Trường hợp nhiệt độ của trẻ không giảm, nhưng chưa thể đưa trẻ đi khám bệnh ngay, thì cho trẻ uống thuốc hạ nhiệt loại paracetamol theo liều dùng trung bình là 10 đến 15mg/kg cân nặng của trẻ/lần, cứ sau 4 giờ cho uống 1 lần. Tốt nhất là dùng thuốc paracetamol loại đầu đạn đặt vào hậu môn. Cần theo dõi nếu thấy trẻ mệt mỏi, quấy khóc nhiều thậm chí có khó thở, môi tím tái và rối loạn tiêu hóa như: Nôn, buồn nôn, tiêu chảy, thì khẩn trương cho trẻ đi khám bệnh ở cơ sở y tế gần nhất để được tư vấn điều trị. Tuyệt đối không nên tự mua thuốc kháng sinh cho trẻ uống.

Phòng bệnh viêm tiểu phế quản ở trẻ em

Viêm tiểu phế quản là bệnh hô hấp cấp tính, rất hay gặp ở trẻ còn bú. Nếu bệnh được phát hiện và điều trị sớm sẽ cho kết quả tốt, những trường hợp nặng gây suy hô hấp có thể bị tử vong. Chính vì vậy, các bậc cha mẹ cần có những hiểu biết về bệnh để chăm sóc trẻ được tốt hơn.

Những biểu hiện khi trẻ bị viêm tiểu phế quản

Triệu chứng ban đầu thường thấy nhất là tình trạng trẻ ho, chảy nước mũi trong, sốt vừa hoặc cao. Sau từ 3 – 5 ngày, trẻ ho ngày một nhiều, xuất hiện thở khó, thở rít. Những trường hợp nặng thì tím tái, thậm chí ngừng thở. Khi thăm khám thường thấy nhịp thở của trẻ nhanh, sốt vừa, xuất hiện các cơn co kéo hô hấp, lồng ngực bị rút lõm, trẻ thở rên. Tiếng thở có thể nghe ran rít, ran ngáy, thông khí phổi kém.

Các tiêu chuẩn lâm sàng khác cho thấy trong khí máu PaO2 giảm, PaCO2 tăng, có nhiễm toan hô hấp kèm theo, đây là những chỉ số đánh giá mức độ nặng của bệnh. Để phát hiện chính xác loại virus gây bệnh, cần phải phân lập hoặc nuôi cấy virus, bằng cách lấy dịch tiết khí phế quản hoặc trong tổ chức phổi hoặc phản ứng huyết thanh.

Cần lưu ý: khi chẩn đoán bệnh cần phân biệt với các triệu chứng của viêm phế quản, viêm phổi do vi khuẩn hoặc virus, bệnh mềm sụn thanh khí quản, bệnh mạch máu, các khối u (chèn ép khí phế quản từ ngoài vào) hoặc tình trạng u mạch máu, hẹp khí quản gây tắc nghẽn đường hô hấp ở trong. Các bệnh như: trào ngược dạ dày thực quản, dị vật đường thở, khó thở thứ phát sau nhiễm virus… cũng cần được phân biệt với viêm tiểu phế quản ở trẻ em.

Vì sao trẻ bị viêm tiểu phế quản?

Tác nhân làm cho trẻ bị viêm tiểu phế quản thường là do các virus như: virus hợp bào hô hấp (VRS), chiếm 30 – 50% các trường hợp mắc bệnh. Virus cúm và á cúm cũng gây bệnh cho khoảng 25% số trẻ bị viêm tiểu phế quản. Ngoài ra phải kể đến adenovirus với 10% số mắc.

Nếu trẻ sống trong vùng có dịch cúm hay viêm đường hô hấp trên (do virus hợp bào) thì tỷ lệ bị lây nhiễm rất cao, do sức đề kháng ở cơ thể trẻ còn quá yếu, nhất là trẻ tuổi bú mẹ mà không được bú đầy đủ sữa mẹ. Những trẻ từng bị ốm do nhiễm virus trước đó như: viêm mũi họng, viêm amiđan, viêm VA… đều có nguy cơ dễ nhiễm bệnh nếu không được chăm sóc tốt. Các trường hợp trẻ bị bệnh tim bẩm sinh, sống trong môi trường hút thuốc lá thụ động, bị bệnh phổi bẩm sinh như: loạn sản phổi, mucoviscidose hay bị suy giảm miễn dịch đều có nguy cơ cao mắc phải viêm tiểu phế quản.

Các biến chứng thường gặp

Tất cả các trường hợp viêm tiểu phế quản ở trẻ nếu không được chẩn đoán bệnh và điều trị tốt sẽ dẫn đến những biến chứng nguy hiểm như: rối loạn chức năng hô hấp, xuất hiện từng cơn khó thở ra tái phát, viêm tiểu phế quản lan tỏa. Nghiêm trọng hơn sẽ làm trẻ bị suy hô hấp cấp, tràn khí màng phổi, viêm phổi – trung thất, xẹp phổi và thậm chí tử vong.

Xử trí và phòng bệnh viêm tiểu phế quản ở trẻ như thế nào?

Đối với các thể thông thường, không có suy hô hấp thì ngay khi vào viện các bác sĩ sẽ tiến hành hút thông đường thở, giải phóng các chất xuất tiết. Dùng khí dung ẩm thuốc giãn phế quản có tác dụng nhanh như: ventolin, bricanyl, salbutamol. Kết hợp với vật lý liệu pháp hô hấp, vỗ rung, hút đờm. Những trẻ sốt cao, nôn, thở nhanh phải bù đủ dịch và điện giải theo nhu cầu cơ thể trẻ. Cần cho trẻ dinh dưỡng đủ chất, cân nhắc cẩn thận trước khi sử dụng kháng sinh.

Đối với những trường hợp nặng có suy hô hấp thì phải sử dụng liệu pháp oxy, hút thông đường hô hấp trên, dùng thuốc giãn phế quản đường khí dung, truyền nước, điện giải theo nhu cầu cơ thể bù lượng thiếu hụt. Nếu những biện pháp trên không cải thiện tình trạng suy hô hấp thì phải tiến hành đặt nội khí quản và các biện pháp hô hấp hỗ trợ khác. Chỉ sử dụng kháng sinh khi có biểu hiện viêm nhiễm thứ phát, không nên dùng steriod cho trẻ.

Muốn phòng bệnh hiệu quả, các bà mẹ hãy cho trẻ bú sữa mẹ đến 2 tuổi, không để trẻ bị lạnh, giữ cho môi trường sống của trẻ được trong lành, không cho trẻ tiếp xúc với khói bếp than, khói thuốc lá. Khi đi ra đường nên giữ ấm và bảo vệ đường hô hấp trên cho trẻ, có thể sử dụng nước muối sinh lý 0,9% nhỏ vào mắt, mũi trẻ sau khi đi chơi về. Những trẻ bị các bệnh tim, phổi bẩm sinh càng đặc biệt lưu ý. Nếu trẻ có những biểu hiện bệnh như: sốt, ho, khó thở cần đưa ngay trẻ đến các chuyên khoa hô hấp để được điều trị đúng

Điều trị bệnh viêm đường hô hấp trên tái phát

Hỏi: Cháu nhà em được 2,5 tuổi, từ khi được 1,5 tuổi đến nay cháu thường xuyên bị viêm đường hô hấp trên (triệu chứng: họng sưng đỏ, ho, sốt, nhiều đờm), thời gian tái phát lại thường từ 2 đến 3 tháng. Cháu được các bác sĩ kê đơn uống thuốc kháng sinh là Ceclo, kháng viêm và long đờm, thời gian uống liên tục 6-7 ngày, bệnh có hết nhưng một thời gian lại tái phát. Xin hỏi có cách nào điều trị bệnh để không bị tái phát lại không ạ?

Trả lời của bác sỹ nhi khoa:

Bệnh viêm đường hô hấp thường tái đi tái lại, đặc biệt là ở trẻ dưới 3 tuổi nên con bạn thường bị cũng không phải là quá bất thường. Việc uống kháng sinh hay một số thuốc đi kèm là tùy thuộc vào chỉ định của bác sĩ, không nên tự ý sử dụng. Để phòng ngừa tái phát, cần thực hiện 1 số biện pháp như: tránh cho trẻ sinh hoạt quá lâu ngoài trời, đặc biệt là khi thời tiết thay đổi, thường xuyên giữ ấm khi trời lạnh, ăn uống đầy đủ dinh dưỡng.

Viêm đường hô hấp trên ở trẻ sơ sinh

Hỏi: “Con tôi chưa đầy tháng. Lúc đẻ ra, cháu khóc ngay, cân nặng 3,1 kg, mấy hôm nay cháu bị ho. Có nên cho cháu nhấp ít mật ong không?”.

Trả lời của bác sỹ nhi khoa:

Nếu đúng như bạn kể trong thư, cháu chỉ ho thì rất có thể là chỉ bị viêm họng nhẹ và cho cháu nhấp một ít mật ong là được vì mật ong cũng có tác dụng kháng khuẩn, trị được ho, tưa miệng… lại bổ dưỡng nữa. Nhưng vì con bạn chưa đầy tháng nên bạn cần lưu ý, các triệu chứng của bệnh viêm phổi thường rất sơ sài, có trẻ sốt mà cũng có trẻ không sốt, thậm chí thân nhiệt lại hạ. Khi thấy trẻ biếng ăn, mút vú yếu, quấy khóc, da xanh, thở không đều trên 60 lần trong một phút, cánh mũi phập phồng, lõm kẽ liên sườn… là bệnh đã nặng.

Nếu bé chỉ ho, sốt nhẹ, sổ mũi hoặc không tức là bé bị nhiễm khuẩn nhẹ ở đường hô hấp trên. Chỉ cần cho bé nhấp ít mật ong (cứ 6 giờ một lần, mỗi lần nửa thìa cà phê) hoặc nhấp nước quất hấp đường kính (lấy quả quất vắt bỏ bớt nước, đem hấp cách thủy với đường kính trong 20 phút, chắt lấy nước, thỉnh thoảng cho bé nhấp miệng).

Nếu bé ho, sốt, thở nhanh (trên 50 lần trong một phút) là bé bị viêm phế quản hoặc viêm phổi nhẹ; cho bé đến trạm y tế khám bệnh và dùng thuốc theo chỉ dẫn của y, bác sĩ.

Nếu bé ho, sốt, thở nhanh, co rút lồng ngực (rút lõm) là bé bị viêm phổi rồi; cho bé điều trị tại trạm y tế, để được theo dõi và kịp thời xử trí khi cần.

Nếu bé ho, thở nhanh, co rút lồng ngực kèm theo tím tái (tím tái quanh môi, lưỡi) là bé đã bị viêm phổi nặng và đã bị biến chứng, phải cho bé đi bệnh viện ngay để được hồi sức cấp cứu.

Trẻ nhỏ thường dễ mắc phải các bệnh viêm đường hô hấp đặc biệt là trong thời tiết lạnh giá hoặc chuyển mùa. Đây là căn bệnh dễ điều trị tuy nhiên hay tái phát. chúng tôi hy vọng rằng bài viết trên sẽ giúp ích cho các bà mẹ trong việc chăm sóc cho bé khi bị bệnh viêm đường hô hấp trên. Chúc các mẹ và các bé luôn mạnh khỏe!

Cách Phòng Bệnh Viêm Đường Hô Hấp Cho Trẻ Khi Giao Mùa / 2023

Trung bình người trưởng thành có thể bị viêm đường hô hấp trên khoảng 2 – 4 lần mỗi năm và con số này còn cao hơn rất nhiều đối với trẻ em. Theo thống kê được nghiên cứu bởi các tổ chức y tế Hoa Kỳ, mỗi năm trẻ có thể bị viêm đường hô hấp trên cấp tính đến 10 lần.

Tùy theo từng lứa tuổi và cơ địa của trẻ và tác nhân gây bệnh mà bệnh có biểu hiện và mức độ khác nhau.

Viêm mũi họng do virus

Sau khi bị lây nhiễm 1 – 2 ngày, trẻ bắt đầu có biểu hiện của cảm lạnh với các triệu chứng thường gặp như:

Ngạt mũi, hắt hơi, nhảy mũi, chảy nước mũi. Ban đầu bé sổ mũi trong, sau đó nước mũi chuyển sang màu trắng đục, xanh hoặc vàng trong vòng 2 – 3 ngày.

Trẻ có thể biếng ăn, ăn uống ít lại, khóc khi ăn do bị đau họng, nuốt khó, nuốt vướng.

Ho xuất hiện sau 4- 5 ngày do họng bị kích thích và nước mũi chảy xuống họng.

Bên cạnh đó trẻ có thể sốt (thường chỉ sốt nhẹ, nhưng đôi khi có thể lên đến 39-40°C), nhức đầu, viêm kết mạc mắt (sợ ánh sáng, mắt đỏ, đau, ngứa và chảy nước mắt), hơi thở hôi, đau cơ, mệt mỏi, đau bụng, nôn ói, tiêu chảy…

Thông thường các triệu chứng trên sẽ cải thiện trong vòng 7 ngày và bé sẽ nhanh chóng hồi phục.

Không có một tiêu chuẩn chắc chắn để phân biệt giữa viêm họng do virus hay vi khuẩn. Tuy nhiên, khả năng viêm họng do vi khuẩn được nghĩ đến khi triệu chứng viêm mũi họng kéo dài hơn 10 ngày hay tình trạng sức khỏe bé trở nên xấu đi sau 5-7 ngày đầu.

Viêm mũi xoang cấp ở trẻ

Biểu hiện thường tương tự với viêm mũi họng cấp nhưng triệu chứng dường như cải thiện trong vòng một tuần sau đó lại trở nên xấu đi.

Trẻ ngạt mũi, sổ mũi nhiều và kéo dài, nước mũi đục có màu vàng hoặc xanh. Tuy nhiên màu sắc của nước mũi không giúp ích nhiều cho việc chẩn đoán nguyên nhân gây bệnh. Nếu tình trạng viêm mũi kéo dài trẻ có thể bị giảm hay mất khả năng nhận biết mùi.

Đôi khi trẻ có thể mô tả được cảm giác nặng đầu, đau sau hốc mắt, đau tức vùng mặt, đau răng….

Trẻ có cảm giác rát hay khô họng do họng bị kích thích bởi dịch nhầy từ trên mũi xuống hay mũi bị ngạt mũi nhiều khiến trẻ phải thở bằng miệng.

Ngoài ra trẻ còn có thể sốt, ho (ho thường vào ban ngày, kéo dài trên 10 ngày), hôi miệng, mệt mỏi…

Trẻ bị viêm thanh thiệt cấp

Theo thống kê, tỉ lệ trẻ viêm thanh thiệt ở từng quốc gia khác nhau. Trung bình cứ 100.000 trẻ sẽ có 6 -14 trẻ mắc bệnh. Độ tuổi mắc bệnh thường trong khoảng 2-7 tuổi, tập trung chủ yếu ở lứa tuổi lên ba.

Bệnh do vi khuẩn Hemophilus influenzae gây ra. Triệu chứng xuất hiện đột ngột, trẻ có các triệu chứng như sốt cao; hạch cổ hai bên; miệng ứ đọng nhiều nước bọt do đau họng, nuốt vướng, nuốt khó; thay đổi giọng nói hay mất tiếng; ho khan, khó thở… Bệnh diển tiến nhanh và nặng, nếu không được điều trị kịp thời trẻ có thể tử vong do nhiễm trùng, nhiễm độc, suy hô hấp.

Viêm thanh quản – viêm thanh khí phế quản cấp

Mọi người đều có thể mắc bệnh, độ tuổi thường gặp từ 6 tháng đến 6 tuổi, tập trung chủ yếu ở trẻ lên hai.

Sau vài ngày khởi bệnh với triệu chứng cảm lạnh hay viêm mũi họng thông thường, tình trạng sức khỏe trở nên trầm trọng hơn. Trẻ khàn tiếng hoặc mất tiếng, thở rít, khò khè, thở co lõm hõm ức, ho…

Trẻ thường ho khan, tiếng ho ong ỏng như chó sủa. Cơn ho có thể đột ngột xuất hiện nhiều lần, nhất là trong đêm.

Khó thở, thở nhanh, ồn ào, co kéo cơ hô hấp phụ cũng là những dấu hiệu thường gặp. Trường hợp nặng bé có thể vã mồ hôi, tím tái, lơ mơ và tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời.

Viêm đường hô hấp trên ở trẻ và cơ chế lây bệnh

Hoạt động của hệ hô hấp của trẻ

Là một trong những cơ quan trọng yếu quyết định sự tồn tại của cơ thể, hệ hô hấp đảm nhận chức năng xử lý không khí, cung cấp oxy và loại bỏ khí thải giúp duy trì sự sống. Để đảm bảo chức năng này, hệ hô hấp như một cỗ máy hoàn chỉnh hoạt động khép kín gồm nhiều bộ phận khác nhau, mỗi bộ phận có một nhiệm vụ riêng.

Không khí khi hít vào sẽ được các cơ quan thuộc đường hô hấp trên (mũi, các xoang cạnh mũi, hầu họng, thanh quản) lọc sạch, làm ẩm và sưởi ấm trước khi theo khí quản đến phổi (đường hô hấp dưới) rồi theo mạch máu đi khắp cơ thể. Lượng khí thải sẽ theo máu trở về phổi và đi qua đường hô hấp trên để thoát ra môi trường bên ngoài. Do vị trí giải phẫu và chức năng hoạt động nên đường hô hấp trên thường xuyên tiếp xúc với các vi khuẩn và các tác nhân gây bệnh khác.

Viêm đường hô hấp trên ở trẻ là gì?

Viêm đường hô hấp trên là tình trạng nhiễm trùng cấp tính ở đường hô hấp trên do ảnh hưởng của các vi sinh vật gây bệnh. Bệnh thường xảy ra vào thời điểm giao mùa (khoảng tháng 9 đến tháng 3), lúc trời trở lạnh, độ ẩm trong không khí giảm thấp.

Virus là nguyên nhân chủ yếu gây nên viêm đường hô hấp trên. Trong đa số các trường hợp trẻ mắc bệnh do nhiễm các loại virus như Influenza, Parainfluenza, hợp bào hô hấp (RSV), Adenovirus, Rhinovirus, Enterovirus, Coronavirus…. Đôi khi còn có sự tham gia của các vi khuẩn như phế cầu ( Streptococcus pneumoniae), liên cầu nhóm A ( Streptococcus pyogenes), Hemophilus influenza, B. catarrhalis…

Trẻ bị nhiễm bệnh khi hít phải dịch tiết có chứa vi khuẩn hay virus do người bệnh bắn ra khi họ ho, hắt hơi, sổ mũi hoặc do bé cầm nắm các vật dụng, đồ chơi nhiễm bẩn bị bám dịch tiết hay có sự hiện diện của các vi sinh vật gây bệnh.

Bệnh có thể gặp ở bất kỳ trẻ nào và ở nhiều độ tuổi khác nhau. Tuy nhiên, khả năng mắc bệnh sẽ cao hơn nếu bé sinh sống ở những nơi chật hẹp, đông người, môi trường bị ô nhiễm, điều kiện vệ sinh kém. Trẻ sinh nhẹ cân, thiếu tháng, không được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ, suy dinh dưỡng, cơ địa suy giảm miễn dịch hay có các bệnh lý mạn tính khác sẽ có nguy cơ mắc bệnh cao hơn những trẻ khác và diễn tiến bệnh thường có khuynh hướng trầm trọng hơn.

Cách phòng viêm đường hô hấp trên cho trẻ khi chuyển mùa

Mưa xen lẫn nắng nhẹ là thời tiết phổ biến trên cả nước trong thời gian gần đây. Hình thái thời tiết này còn có thể kéo dài trong thời gian sắp tới. Đây là điều kiện cho nhiều bệnh tật phát triển, trong đó viêm đường hô hấp trên ở trẻ là một trong số những bệnh đang diễn ra phổ biến trong thời gian này.

Theo các bác sỹ, viêm đường hô hấp trên bao gồm viêm họng, hầu, mũi, viêm thanh quản và viêm xong. Tuy bệnh không gây nguy hiểm nghiêm trọng nhưng viêm đường hô hấp trên cũng gây không ít phiền toái cho người bệnh. Ngoài ra, nếu không được chữa trị kịp thời vi khuẩn cũng có thể đi vào máu gây nhiễm trùng huyết, viêm não, viêm màng não…

Các nghiên cứu khoa học cho thấy trẻ em có nguy cơ mắc viêm đường hô hấp trên cao hơn người lớn rất nhiều và đây là một trong những bệnh phổ biến trong thời điểm giao mùa như hiện nay. Vì vậy, các bác sỹ khuyến cáo các bậc cha mẹ nên thường xuyên theo dõi và chăm sóc các em nhỏ đẻ phát hiện kịp thời những dấu hiệu bất thường ở trẻ.

Theo Bác sỹ Chu Thị Việt Hà, Khoa Nhi, Bệnh viện Việt Nam – Cu Ba, bệnh viêm đường hô hấp trên ở trẻ nhỏ dễ dẫn đến viêm xuống phế quản hoặc viêm phổi, vì vậy việc theo dõi con là rất quan trọng. Nếu bố mẹ thấy con bú kém, bỏ bú hay thở nhanh, gật gù theo nhịp thở hoặc lồng ngực rút lõm khi thở thì phải đưa con đến viện ngay.

-Cho trẻ bú mẹ từ những giờ đầu sau sinh và duy trì đến 2 tuổi.

-Ăn dặm đúng thời điểm với chế độ dinh dưỡng hợp lý.

-Cho trẻ uống nhiều nước hơn, ăn đủ chất dinh dưỡng, tăng cường rau xanh và hoa quả để tăng sức đề kháng

-Cho trẻ đi tiêm chủng đầy đủ theo chương trình tiêm chủng Quốc gia.

-Giữ vệ sinh sạch sẽ cho trẻ, vệ sinh mỗi họng hàng ngày bằng dung dịch nước muối sinh lý.

-Tránh nhiễm lạnh cho trẻ bằng cách không cho trẻ ăn uống đồ quá lạnh.

-Không hút thuốc lá và giữ nhà cửa luôn thông thoáng, sạch sẽ.

-Hạn chế đưa trẻ đến nơi đông người trong mùa dịch bệnh.

-Mang khẩu trang khi tiếp xúc với người bệnh.

Tiểu Đường Thai Kỳ: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Chẩn Đoán Và Điều Trị / 2023

Tiểu đường thai kỳ (đái tháo đường thai kỳ) là gì?

Theo quan điểm cũ bất kỳ tình trạng rối loạn dung nạp glucose nào khởi phát hoặc lần đầu tiên phát hiện trong thai kỳ là tiểu đường thai kỳ. Ngày nay,theo quan điểm mới đái tháo đường được chẩn đoán trong 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối của thai kỳ không nói rõ tuýp 1 hoặc tuýp 2 được gọi là tiểu đường thai kỳ còn các thai phụ có tiểu đường từ trước khi mang thai, khi mang thai được gọi là bệnh nhân tiểu đường tuýp 1 hoặc tuýp 2 mang thai.

Tiểu đường thai kỳ có nguy hiểm không?

Tiểu đường thai kỳ có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm.

Biến chứng của tiểu đường thai kỳ đối với mẹ:

Biến chứng của tiểu đường thai kỳ đối với thai nhi và trẻ sơ sinh:

Chậm phát triển trong tử cung

Suy hô hấp cấp chu sinh

Tử vong chu sinh

Dị tật sơ sinh

Tăng nguy cơ hạ đường huyết khi sinh

Hạ canxi máu, đa hồng cầu, tăng Bilirubin máu gây vàng da sơ sinh…

Dễ béo phì và tăng nguy cơ mắc tiểu đường trong tương lai

Nguyên nhân tiểu đường thai kỳ là gì?

Hầu như tiểu đường thai kỳ không có triệu chứng gì đặc biệt

Vậy xét nghiệm tiểu đường thai kỳ khi nào?

Nếu người mẹ có nguy cơ cao mắc tiểu đường thai kỳ (xem phần nguy cơ phía dưới), xét nghiệm tiểu đường thai kỳ nên được thực hiện ngay khi chẩn đoán có thai

Nếu người mẹ nguy cơ trung bình, thấp, xét nghiệm tiểu đường nên được thực hiện vào khoảng tuần 24-28 của thai kỳ

Chế độ ăn lành mạnh: nhiều rau xanh, ít mỡ động vật thay bằng dầu thực vật

Tập thể dục: tập thể dục thường xuyên trước và trong khi mang thai, 30 phút mỗi ngày trong hầu hết các ngày trong tuần sẽ làm giảm nguy cơ mắc tiểu đường thai kỳ. Có thể đi bộ, đạp xe..

Giảm cân trước khi mang thai: không khuyến khích giảm cân khi có thai nhưng có thể giảm cân trước khi mang thai (nếu thừa cân) để có một thai kỳ khỏe mạnh

Chẩn đoán tiểu đường nói chung (theo hiệp hội đái tháo đường Mỹ):

Đường máu lúc đói ≥ 7mmol/l hoặc Đường máu bất kỳ ≥ 11,1 mmol/l

Nếu không đủ tiêu chuẩn trên thì làm nghiệm pháp dung nạp glucose

Thực hiện nghiệm pháp dung nạp glucose với 75 g glucose, đo đường huyết lúc đói, sau 1 giờ và 2 giờ, ở tuần 24-28 của thai kỳ ở người chưa được chẩn đoán đái tháo đường trước đó.

Thực hiện nghiệm pháp dung nạp glucose vào buổi sáng sau khi nhịn đói qua đêm ít nhất 8 giờ.

Kết quả trị số đường huyết sau làm nghiệm pháp được chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ nếu có 1 trong các trị số đường máu sau:

Đường máu lúc đói ≥ 92 mg/dL (5,1mmol/l)

Đường máu sau 1 giờ uống nước đường ≥180 mg/dL (10 mmol/l)

Đường máu sau 2 giờ uống nước đường ≥153 mg/dL (8,5 mmol/l)

Chế độ ăn phù hợp: đủ chất đạm, chất béo, đường, vitamin, muối khoáng và nước với khối lượng hợp lí. Tăng cân vừa phải 8 đến 12 cân trong cả thai kỳ. Tránh ăn quá nhiều tăng cân quá mức.

Tập thể dục đều đặn các môn thể thao an toàn cho phụ nữ có thai ví dụ như bơi, đi bộ… mỗi ngày, nên đi bộ 20- 30 phút sau ăn các bữa mỗi ngày giúp kiểm soát đường máu

Kiểm soát đường huyết: đối với tiểu đường thai kỳ thì kiểm soát bằng chế độ ăn và luyện tập thể dục cũng là điều trị kiểm soát đường huyết. Nếu chế độ ăn và luyện tập không kiểm soát đường máu đạt mục tiêu thì chỉ nên kiểm soát đường huyết bằng insulin ngoại sinh. Dùng theo phác đồ, tuân thủ giờ tiêm và liều lượng tránh bị tụt đường huyết. Thường nên dùng các loại insulin giống hoàn toàn insulin người. Và người bệnh tiểu đường thai kỳ cần tự theo dõi đường máu thường xuyên nhiều lần trong ngày tại nhà theo chỉ dẫn của bác sĩ chuyên khoa

Theo dõi người bệnh tiểu đường cần có sự phối hợp của nhiều chuyên khoa, có mối liên hệ chặt chẽ giữa các bác sỹ chuyên khoa đái tháo đường, sản khoa, dinh dưỡng, sơ sinh.

Người bệnh tiểu đường thai kỳ có thể chuyển dạ tự nhiên và sinh thường khi thai đủ tháng tuy nhiên nếu đường máu kiểm soát kém, có tiền sử sảy thai thì có thể sinh sớm để tránh tử vong cho thai

Sau sinh cần cho trẻ sơ sinh bú sớm, theo dõi chặt chẽ các biến cố có thể xảy ra. Đối với người mẹ tiểu đường thai kỳ sau sinh có thể không cần điều trị và kiểm tra lại tiểu đường sau 4 đến 6 tuần.

Bạn đang xem bài viết Triệu Chứng Và Nguyên Nhân Viêm Đường Hô Hấp Trên Ở Trẻ Em / 2023 trên website Ieecvn.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!