Xem Nhiều 1/2023 #️ Tăng Huyết Áp Khi Mang Thai # Top 6 Trend | Ieecvn.com

Xem Nhiều 1/2023 # Tăng Huyết Áp Khi Mang Thai # Top 6 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Tăng Huyết Áp Khi Mang Thai mới nhất trên website Ieecvn.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Đối với tăng huyết áp nhẹ, các biện pháp điều trị bảo tồn sau đó là thuốc hạ huyết áp nếu cần

Methyldopa, thuốc chẹn beta hoặc thuốc chẹn kênh canxi được dùng thử trước tiên

Tránh dùng các thuốc ức chế men chuyển angiotensin (ACE), thuốc ức chế thụ thể angiotensin II (ARB) và thuốc đối kháng aldosterone

Đối với tăng huyết áp vừa hoặc nặng, điều trị hạ huyết áp, theo dõi sát và nếu tình trạng xấu đi, có thể chấm dứt thai kỳ hoặc sinh nở, tùy thuộc vào tuổi thai

Các khuyến nghị với tăng huyết áp mạn tính và tăng huyết áp thai kỳ là tương tự nhau và phụ thuộc vào mức độ nặng. Tuy nhiên, tăng huyết áp mạn tính có thể nặng hơn. Trong tăng huyết áp thai kỳ, tăng BP thường chỉ xảy ra muộn trong thời kỳ mang thai và có thể không cần điều trị.

Điều trị tăng huyết áp nhẹ đến trung bình mà không bị suy thận trong quá trình mang thai còn nhiều tranh cãi; vấn đề là liệu việc điều trị có cải thiện kết quả hay không và liệu các nguy cơ của việc điều trị bằng thuốc có cao hơn các nguy cơ của bệnh không được điều trị hay không. Do tuần hoàn tử cung-nhau thai bị giãn tối đa và không thể tự động điều chỉnh được nên việc làm giảm BP của mẹ bằng các loại thuốc có thể làm giảm đột ngột lưu lượng máu tử cung-nhau thai. Thuốc lợi tiểu làm giảm lưu lượng máu lưu thông hiệu quả ở mẹ; liên tục giảm làm tăng nguy cơ hạn chế tăng trưởng bào thai. Tuy nhiên, tăng huyết áp có suy thận được điều trị ngay cả khi tăng huyết áp nhẹ hoặc trung bình.

Đối với tăng huyết áp nhẹ hoặc trung bình (BP tâm thu từ 140 đến 159 mm Hg hoặc BP tâm trương từ 90 đến 109 mm Hg) với BP không ổn định, hoạt động thể chất giảm có thể làm giảm BP và cải thiện sự tăng trưởng của thai nhi, làm cho nguy cơ ở giai đoạn chu sinh tương tự như ở phụ nữ không bị tăng huyết áp. Tuy nhiên, nếu biện pháp điều trị bảo tồn này không làm giảm BP, nhiều chuyên gia khuyên nên điều trị bằng thuốc. Phụ nữ đang dùng methyldopa, thuốc chẹn beta, thuốc chẹn kênh canxi hoặc phối hợp điều trị trước khi mang thai có thể tiếp tục dùng các loại thuốc này. Tuy nhiên, cần phải ngừng thuốc ức chế men chuyển angiotensin và thuốc chẹn thụ thể angiotensin II khi có chẩn đoán xác định là có thai.

Đối với tăng huyết áp nặng (BP tâm thu ≥ 160 mm Hg hoặc BP tâm trương ≥ 110 mm Hg), có chỉ định điều trị bằng thuốc. Nguy cơ bị các biến chứng – người mẹ (tiến triển của rối loạn chức năng nội tạng, tiền sản giật) và thai nhi (sinh non, hạn chế tăng trưởng, thai chết lưu) tăng lên đáng kể. Có thể cần phải dùng một số loại thuốc hạ huyết áp.

Tất cả phụ nữ bị tăng huyết áp mạn tính trong quá trình mang thai cần phải được dạy cách tự theo dõi BP và họ cần phải được đánh giá về tổn thương ở cơ quan đích. Đánh giá, được thực hiện vào lần khám ban đầu và định kỳ sau đó, bao gồm

Nồng độ creatinine huyết thanh, các chất điện giải và nồng độ axit uric

Các xét nghiệm chức năng gan

Số lượng tiểu cầu

Đánh giá protein nước tiểu

Thường là soi đáy mắt

Thuốc

Các thuốc hàng đầu điều trị tăng huyết áp trong quá trình mang thai bao gồm

Methyldopa

Thuốc chẹn beta

Thuốc chẹn kênh canxi

Liều methyldopa ban đầu là 250 mg uống hai lần mỗi ngày, tăng lên khi cần đến tổng cộng là 2 g mỗi ngày trừ khi có tình trạng buồn ngủ quá mức, trầm cảm hoặc hạ huyết áp thế đứng có triệu chứng.

Thuốc chẹn beta được sử dụng phổ biến nhất là labetol (thuốc chẹn beta có một số tác dụng chẹn alpha-1), có thể được sử dụng riêng hoặc kèm theo methyldopa khi đã đạt liều methyldopa tối đa hàng ngày. Liều labetol thông thường là 100 mg hai lần hoặc 3 lần mỗi ngày, tăng lên khi cần thiết đến tổng liều tối đa hàng ngày là 2400 mg. Tác dụng bất lợi của thuốc chẹn beta bao gồm tăng nguy cơ hạn chế tăng trưởng của thai nhi, giảm mức năng lượng của mẹ và trầm cảm ở mẹ.

Nifedipine phóng thích kéo dài, thuốc chẹn kênh canxi, có thể được ưa dùng vì dùng một lần/ngày (liều ban đầu là 30 mg; liều tối đa hàng ngày là 120 mg); tác dụng bất lợi bao gồm đau đầu và phù nề trước xương chày. Thuốc lợi tiểu thiazide chỉ được sử dụng để điều trị tăng huyết áp mạn tính trong quá trình mang thai nếu lợi ích tiềm năng nhiều hơn nguy cơ tiềm ẩn cho thai nhi. Liều có thể được điều chỉnh để giảm thiểu các tác dụng bất lợi như là hạ kali máu.

Thường tránh dùng một số loại thuốc hạ huyết áp trong quá trình mang thai:

Chống chỉ định dùng các thuốc ức chế men chuyển angiotension do làm tăng nguy cơ gây các bất thường ở đường tiết niệu của thai nhi.

Chống chỉ định dùng thuốc chẹn thụ thể angiotension II vì các thuốc này làm tăng nguy cơ rối loạn chức năng thận, giảm sản phổi, các dị tật ở xương và tử vong ở thai nhi.

Nên tránh dùng thuốc đối kháng aldosterone (spironolactone và eplerenone) vì các thuốc này có thể gây nữ tính hóa ở thai nhi nam.

Tăng Huyết Áp Thai Kỳ (Tăng Huyết Áp Do Mang Thai)

Nếu bạn bị cao huyết áp sau 20 tuần mang thai nhưng không có protein trong nước tiểu hoặc các triệu chứng chính của tiền sản giật thì sẽ được chẩn đoán là bị cao huyết áp thai kỳ, đôi khi được gọi là cao huyết áp do thai nghén (PIH). (Tiền sản giật là một tình trạng nghiêm trọng, trong đó phụ nữ bị huyết áp cao sau giai đoạn giữa thai kỳ và có protein trong gan, thận hoặc bất thường, nhức đầu hoặc thay đổi thị giác). Phụ nữ bị huyết áp cao trước khi mang thai – hoặc được chẩn đoán trước 20 tuần – là bị cao huyết áp mạn tính)

Huyết áp cao thường được định nghĩa là có chỉ số huyết áp từ 140/90 trở lên, ngay cả khi chỉ có 1 trong 2 chỉ số cao hơn. Thường thì không có bất kỳ triệu chứng nào nghiêm trọng trừ khi huyết áp thực sự cao.

Chỉ số huyết áp trên là huyết áp tâm thu, đo áp suất máu tác động vào thành động mạch khi tim bơm máu. Chỉ số dưới là áp suất tâm trương, đo áp suất khi tim thư giãn và bơm đầy máu.

Bác sĩ có thể sẽ đo huyết áp của bạn tại một vài thời điểm khác nhau để xác định xem nó có thực sự cao hay không.

Điều này phụ thuộc vào việc bạn đã có thai được bao lâu khi phát triển chứng tăng huyết áp thai kỳ và chỉ số cao như nào. Huyết áp càng cao và số tuần thai càng ít thì có vẻ bạn sẽ có nguy cơ gặp vấn đề càng cao. Tin tốt là hầu hết phụ nữ bị tăng huyết áp khi mang thai chỉ bị tình trạng nhẹ và mãi đến tuần thứ 37 hoặc sau đó mới phát triển chứng bệnh này. Nếu bạn thuộc nhóm này, bạn vẫn có nguy cơ cao hơn bị kích sinh hoặc sinh mổ, ngoài ra thì bạn và con có thể vẫn sẽ khỏe mạnh cứ như có tình trạng huyết áp bình thường.

Tuy nhiên, cứ 4 phụ nữ bị tăng huyết áp khi mang thai thì 1 người sẽ phát triển chứng tiền sản giật trong thời kỳ mang thai hoặc chuyển dạ hoặc ngay sau khi sinh. Và bạn có 50% nguy cơ bị tiền sản giật nếu bị cao huyết áp trong thai kỳ trước tuần thứ 30.

Bị tăng huyết áp thai kỳ cũng làm bạn có nguy cơ cao mắc một số biến chứng thai nghén khác, bao gồm thai nhi hạn chế tăng trưởng trong tử cung, sinh non, bong nhau thai và thai chết lưu. Vì những rủi ro này, người chăm sóc sẽ theo dõi bạn và bé hết sức cẩn thận.

Hơn 4% phụ nữ mang thai ở Hoa Kỳ tăng huyết áp trong thai kỳ. Rủi ro của bạn sẽ cao hơn nếu:

Đây là lần mang thai đầu tiên

Bạn bị béo phì.

Bạn trên 40 tuổi.

Bạn có tiền sử cá nhân hoặc gia đình bị cao huyết áp trong khi mang thai hoặc tiền sản giật.

Bạn bị suy thận mạn tính hoặcbệnh tiểu đường.

Bạn đang mang thai đôi hoặc đa thai.

Vì huyết áp cao có thể ảnh hưởng đến lưu lượng máu chảy qua nhau thai, nên nếu bạn được chẩn đoán bị tăng huyết áp trong khi mang thai, người chăm sóc sẽ siêu âm để đảm bảo rằng con của bạn đã phát triển tốt và để xem liệu bạn có lượng nước ối bình thường hay không. Đồng thời bạn cũng có thể được thực hiện đo chỉ số sinh lý học thai nhi (BPP) để kiểm tra tình trạng sức khoẻ của bé. Và trong một số trường hợp (ví dụ như nếu con tăng trưởng kém), bạn sẽ được thực hiện siêu âm Doppler để kiểm tra lưu lượng máu đến em bé.

Người chăm sóc cũng có thể thực hiện một loạt các xét nghiệm máu và yêu cầu bạn lấy nước tiểu trong 24 giờ để kiểm tra protein (đây là một thử nghiệm cho kết quả chính xác hơn so với xét nghiệm thử nước tiểu trong mỗi lần khám thai). Bạn cũng có thể cần phải kiểm tra huyết áp hai lần một tuần và được xét nghiệm máu hàng tuần. Những thử nghiệm này sẽ giúp xác định xem bạn có bị tiền sản giật hay không và cho phép người chăm sóc của bạn kiểm tra bất kỳ thay đổi nào sau đó về tình trạng của bạn. Cuối cùng, bạn sẽ đực thực hiện BPP xét nghiệm Nonstress Test (Xét nghiệm không kích thích đến thai nhi) để kiểm tra sức khoẻ bé.

Ngoài những biện pháp ban đầu này, người chăm sóc kiểm soát tình trạng tùy vào chỉ số huyết áp của bạn cao như nào, tình trạng hiện tại của bạn và bé cũng như số tuần thai của bạn. Cô ấy có thể yêu cầu bạn giảm hoạt động và có thể giới thiệu bạn với một bác sỹ chuyên khoa nhi, một bác sĩ chuyên về các trường hợp mang thai có nguy cơ cao.

Nếu bạn chưa đến 37 tuần và huyết áp không tăng lên đáng kể, bạn có thể phải nhập viện vài ngày theo dõi. Sau đó, nếu bạn và con ổn định thì có thể về nhà và được yêu cầu giảm hoạt động.

Bạn sẽ cần thăm khám người chăm sóc thường xuyên để có thể được theo dõi huyết áp, xét nghiệm nước tiểu và kiểm tra sự thay đổi tình trạng. (Người chăm sóc cũng có thể kiểm tra và theo dõi huyết áp tại nhà. Cô ấy sẽ cho bạn biết khi nào cần gọi đến văn phòng hoặc đến bệnh viện, dựa vào những chỉ số đó).

Em bé cũng sẽ được theo dõi chặt chẽ bằng các bài kiểm tra BPP và Nonstress hàng tuần hoặc 2 tuần một lần. Bạn cũng sẽ phải siêu âm 3 tuần một lần trở lên để theo dõi sự tăng trưởng của bé.

Ngoài ra, người chăm sóc có thể yêu cầu bạn theo dõi các cử động của bé bằng cách “đếm số lần đá của bào thai” hàng ngày. Đây là một cách tốt nhất để bạn theo dõi sự thoải mái của con giữa các cuộc hẹn khám trước sinh. Cho dù bạn có đang thực sự tính số lần đá hay không, hãy gọi cho người chăm sóc ngay lập tức nếu nhận thấy em bé đang có xu hướng di chuyển ít hơn trước.

Bạn sẽ cần phải được thăm khám ngay lập tức nếu phát triển các triệu chứng tiền sản giật (như sưng phù, tăng cân đột ngột, nhức đầu dai dẳng hoặc dữ dội, thay đổi thị lực, đau bụng trên hoặc dị ứng, buồn nôn và nôn mửa) hoặc có các dấu hiệu bong nhau thai như chảy máu âm đạo, tử cung nhạy cảm hoặc đau). Nếu có bất kỳ dấu hiệu nào với bạn hoặc con, có thể bạn sẽ phải nhập viện và buộc phải sinh con.

Nếu tình trạng huyết áp tăng cao (chỉ số từ 160/110 trở lên), bạn sẽ được cho dùng thuốc để hạ huyết áp và nhập viện cho đến khi sinh em bé. Nếu thai kỳ chưa đến 34 tuần, bạn sẽ được dùng corticosteroids để tăng tốc độ trưởng thành của phổi và các cơ quan khác của bé.

Nếu tình trạng của bạn trở nên tồi tệ hơn, hoặc nếu bé không còn phát triển trong tử cung hoặc nếu bạn đã được 37 tuần trở lên, bác sĩ sẽ yêu cầu kích sinh hoặc sinh mổ (tùy tc vào tình trạng hiện tại của bạn), mặc dù bé vẫn còn khá non. Nếu không cần phải sinh ngay lập tức, bạn sẽ vẫn ở trong bệnh viện để được theo dõi chặt chẽ và bé sẽ có nhiều thời gian để trưởng thành hơn.

Huyết áp của bà bầu có trở lại bình thường sau khi sinh không?

Sau khi sinh, huyết áp của bạn sẽ được giám sát chặt chẽ và người chăm sóc sẽ theo dõi bạn xem có các dấu hiệu tăng huyết áp và tiền sản giật hay không. (Thông báo cho người chăm sóc ngay nếu thấy có triệu chứng tiền sản giật, cho dù bạn vẫn ở bệnh viện hay đã về nhà). Hầu hết các triệu chứng huyết áp sẽ trở lại bình thường trong vòng vài tuần sau khi bạn sinh con.

Tuy nhiên ở một số phụ nữ huyết áp sẽ vẫn còn cao. Nếu huyết áp của bạn sau sinh 3 tháng vẫn còn cao thì bạn sẽ được chẩn đoán là bị bệnh cao huyết áp mạn tính. Điều đó có nghĩa là bạn có thể bị cao huyết áp mạn tính từ trước nhưng chỉ là không biết.

Mang thai thường khiến huyết áp của bạn giảm xuống vào cuối tam cá nguyệt thứ nhất và phần lớn của tam cá nguyệt thứ hai, do đó, nó có thể tạm thời làm che giấu đi tình trạng tăng huyết áp mạn tính. (Nó sẽ trở về mức bình thường vào cuối tam cá nguyệt thứ hai.) Nếu bạn không đo huyết áp trước khi thụ thai và mãi đến cuối tam cá nguyệt thứ nhất bạn mới thực hiện lần khám tiền sản đầu tiên thì tình trạng tăng huyết áp của bạn phải đến cuối thai kỳ mới rõ ràng được.

Mẹ Bầu Bị Tăng Huyết Áp Khi Mang Thai

Tăng huyết áp thai kỳ là nguyên nhân chính gây ra chứng tiền sản giật cũng như nhiều vấn đề sức khỏe. Việc nhận biết sớm các triệu chứng sẽ giúp mẹ bầu phòng ngừa và điều trị tốt hơn.

Tăng huyết áp thai kỳ là gì?

Huyết áp trong thai kỳ dựa vào trị số huyết áp tại bệnh viện (hoặc phòng khám). Trong đó, huyết áp tâm thu (HATT) ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương (HATTr) ≥ 90 mmHg. Phân loại thành mức độ nhẹ (140-159/90-109 mmHg) hoặc nặng (≥ 160/110 mmHg) khác với phân độ theo hướng dẫn tăng huyết áp của ESC/ESH.

Tăng huyết áp thai kỳ: chỉ có tăng huyết áp đơn thuần, xảy ra sau tuần thai thứ 20.

Tiền sản giật: cũng xảy ra sau tuần 20, gồm có tăng huyết áp, phù và có đạm trong nước tiểu.

Tăng huyết áp mãn tính: có cao huyết áp trước khi mang thai.

Tăng huyết áp mãn tính ghép thêm tiền sản giật.

Dấu hiệu tăng huyết áp

Thai phụ bị tăng huyết áp thai kỳ có thể không có những triệu chứng lâm sàng hoặc cũng có thể gặp phải một số triệu chứng sau đây:

Cân nặng tăng lên một cách đột ngột, nhanh chóng

Có tình trạng sưng phù ở mặt, chân, tay,…

Giảm thị lực (nhìn kém, mờ, đôi khi nhìn thấy ảnh đôi,…)

Buồn nôn và nôn nhiều lần. Buồn nôn có thể là triệu chứng ốm nghén. Nhưng nếu buồn nôn và nôn liên tục, kèm theo đau bụng vùng thượng vị, nhức đầu chóng mặt… thì có thể là dấu hiệu tăng huyết áp thai kỳ.

Nguy cơ khi mẹ bị tăng huyết áp đối với cả mẹ và con là gì?

Nếu không kiểm soát được tình trạng tăng huyết áp khi mang thai thì có thể dẫn đến các tai biến cho mẹ, giống như tình trạng tai biến mạch máu của người bệnh cao huyết áp (là do mạch máu bị vỡ dưới áp lực quá cao).

Có đến 1/4 phụ nữ tăng huyết áp thai kỳ tiếp tục tiến triển thành tiền sản giật. Nguy cơ này sẽ tăng gấp đôi nếu mẹ bị tăng huyết áp trước tuần thứ 30. Mẹ bị tăng huyết áp ở lần mang thai đầu có khả năng bị lại ở những lần sau. Theo đó, mẹ cũng có thể phải đối mặt với chứng tăng huyết áp và đột quỵ sau này.

Với con, do tình trạng máu nuôi kém, có thể có thai nhẹ ký hay suy dinh dưỡng. Nguy hiểm nhất là tình trạng sanh non hay buộc lòng phải cho con ra đời sớm để giảm bệnh lý cho mẹ. Bên cạnh đó, em bé còn nguy cơ gặp phải một số biến chứng như: chậm phát triển, đứt nhau thai, thai chết lưu…

Ðiều trị và phòng ngừa tăng huyết áp thai kỳ bằng cách nào?

Ðiều trị tăng huyết áp trong thai kỳ chủ yếu là thuốc hạ áp khi huyết áp trên ngưỡng. Nhưng trước đó sản phụ cần được theo dõi sát các diễn tiến của huyết áp.

Mẹ bầu có thể ở nhà (điều trị ngoại trú) với sự theo dõi chặt chẽ của chuyên gia chăm sóc sức khỏe. Bạn có thể được yêu cầu theo dõi các chuyển động của bé bằng cách đếm số lần thai nhi cử động hàng ngày và đo huyết áp tại nhà.

Mẹ bầu cần được thăm khám sức khỏe ít nhất là hàng tuần và đôi khi là hai lần mỗi tuần. Khi đạt đến 37 tuần thai, bạn có thể được gợi ý sinh con.

Điều trị tiền sản giật với dấu hiệu nặng như thế nào?

Tiền sản giật với các dấu hiệu nặng thường được điều trị tại bệnh viện. Nếu bạn có thai ít nhất 34 tuần, bạn nên sinh con ngay khi tình trạng ổn định. Nếu bạn mang thai dưới 34 tuần và trong tình trạng ổn định, thì nên chờ một thời gian nữa rồi sinh.

Cách phòng ngừa như thế nào?

Phòng ngừa cao huyết áp thai kỳ tốt nhất là theo dõi huyết áp sớm và thường xuyên lúc mang thai, biết được tình trạng huyết áp trước khi mang thai. Tránh mang thai khi còn quá trẻ hay đã quá lớn tuổi, điều trị ổn định các bệnh nội khoa trước khi mang thai.

Nếu bạn thừa cân, nên giảm cân trước khi mang thai. Nếu bạn có một vấn đề sức khỏe như tiểu đường, nên kiểm soát tốt tình trạng của mình trước khi mang thai.

Khi mang thai mẹ bầu hãy vận động nhẹ nhàng, giữ sức khoẻ tốt.

Như vậy, tăng huyết áp thai kỳ báo động một thai kỳ với nguy cơ. Việc quan trọng mẹ bầu cần làm là theo dõi sát huyết áp trước và trong khi mang thai. Nếu có dấu hiệu bất thường mẹ bầu cần đến khám bác sĩ để được điều trị ngay.

Huyết Áp Bình Thường Khi Mang Thai

Nếu chỉ số huyết áp cao hơn, thai phụ có thể bị tăng huyết áp. Huyết áp cao xảy ra trong thai kỳ có thể chỉ ra các biến chứng nghiêm trọng như tiền sản giật – tình trạng có thể gây đe dọa đến tính mạng. Vì vậy việc theo dõi và kiểm huyết áp trong suốt thai kỳ là vô cùng quan trọng.

Huyết áp là áp lực mà máu tác động vào thành mạch máu theo từng nhịp tim. Theo AHA, những người có tình trạng huyết áp cao nếu không được điều trị và kiểm soát có nguy cơ cao bị đau tim, đột quỵ hoặc các vấn đề sức khỏe khác chẳng hạn như bệnh thận.

Huyết áp cao khi mang thai còn được gọi là tăng huyết áp thai kỳ. Tăng huyết áp thai kỳ xảy ra nếu huyết áp của người phụ nữ nằm trong mức bình thường trong 20 tuần đầu của thai kỳ và sau đó tăng lên 140/90 mm Hg hoặc cao hơn trong nửa sau của thai kỳ.

Các chuyên gia không biết nguyên nhân chính xác của tăng huyết áp thai kỳ, nhưng theo Cedars-Sinai, các yếu tố nguy cơ bao gồm:

Trong hầu hết các trường hợp, tăng huyết áp sẽ biến mất sau khi sinh.

ACOG chỉ ra rằng tăng huyết áp thai kỳ có thể trực tiếp gây ra các biến chứng hoặc làm tăng nguy cơ biến chứng như:

Phụ nữ bị huyết áp cao trước khi mang thai nên nói chuyện với bác sĩ để có các biện pháp theo dõi chặt chẽ nhằm đảm bảo an toàn cho cả thai phụ và thai nhi.

Huyết áp cao khi mang thai có thể không gây ra bất kỳ triệu chứng nào. Trường hợp huyết áp cao xảy ra do tiền sản giật, các triệu chứng phổ biến bao gồm:

AHA xác định trong 24 tuần đầu tiên của thai kỳ khoảng thời gian dễ xuất hiện tình trạng huyết áp thấp có thể gây ra các triệu chứng như:

Đối với hầu hết người lớn, huyết áp khỏe mạnh thường dưới 120/80 mm Hg. Huyết áp thấp xảy ra khi huyết áp giảm xuống dưới 90/60 mm Hg. Một số người có huyết áp thấp tự nhiên, nhưng việc giảm huyết áp đột ngột có thể gây ra các triệu chứng như trên.

Phụ nữ mang thai có bất kỳ lo lắng nào về sức khỏe của bản thân hoặc thai nhi nên tham khảo ý kiến bác sĩ.

Đối với những người bị huyết áp cao hoặc có nguy cơ bị huyết áp cao muốn theo dõi huyết áp tại nhà, bác sĩ có thể có thể khuyến cáo các biện pháp nhằm kiểm soát huyết áp phù hợp theo từng đối tượng và thời gian mang thai.

Tuy nhiên, nếu các biện pháp trên không thể kiểm soát tình trạng huyết áp quá cao hoặc quá thấp, nên khám lại bác sĩ để có những chẩn đoán và can thiệp kịp thời. Bất kỳ thai phụ nào gặp phải các dấu hiệu hoặc triệu chứng của tiền sản giật cần đến ngay các cơ sở y tế gần nhất.

Có một số cách để thai phụ kiểm soát huyết áp an toàn. Theo March of Dimes có thể thực hiện các biện pháp sau:

Không phải lúc nào cũng có thể ngăn ngừa tình trạng huyết áp cao. Có thể thực hiện các biện pháp để giữ huyết áp ở mức bình thường trước và trong khi mang thai. Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) khuyến cáo thực hiện các biện pháp sau đây để ngăn ngừa huyết áp cao:

Phụ nữ mang thai có dấu hiệu huyết áp thấp nên nói chuyện với bác sĩ về cách kiểm soát. Các lựa chọn điều trị chung cho người bị huyết áp thấp bao gồm:

Phụ nữ mang thai nên duy trì huyết áp bình thường trong suốt thai kỳ. Phụ nữ bị huyết áp cao, đa thai hoặc có các yếu tố nguy cơ khác có thể bị huyết áp cao trong thai kỳ sau này.

Bạn đang xem bài viết Tăng Huyết Áp Khi Mang Thai trên website Ieecvn.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!