Xem Nhiều 2/2023 #️ Sản Phụ Khoa Phúc Thiện # Top 11 Trend | Ieecvn.com

Xem Nhiều 2/2023 # Sản Phụ Khoa Phúc Thiện # Top 11 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Sản Phụ Khoa Phúc Thiện mới nhất trên website Ieecvn.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Thai trứng (hydatidiform mole) là một biến đổi bệnh lý của nguyên bào nuôi. Bệnh đặc trưng bằng sự thoái hoá nước của các gai nhau (hydropic degeneration) và sự quá sản của các nguyên bào nuôi (trophoblastic hyperplasia).

Có 2 loại Thai trứng: chửa trứng bán phần là khi chỉ một số gai nhau trở thành các nang nước, trong buồng tử cung có thể có phần thai nhi. Thai trứng hoàn toàn là toàn bộ các gai nhau trở thành nang nước, trong buồng tử cung không có phần thai.

Thai trứng là bệnh lành tính những có khoảng 15% trường hợp Thai trứng hoàn toàn và khoảng 3% Thai trứng bán phần trở thành ung thư nguyên bào nuôi.

2.1. Lâm sàng

2.1.1. Cơ năng

– Người bệnh có hiện tượng chậm kinh.

– Rong huyết chiếm trên 90% trường hợp chửa trứng. Máu ra ở âm đạo tự nhiên, máu sẫm đen hoặc đỏ loãng, ra kéo dài.

– Nghén nặng: gặp trong 25-30% các trường hợp, biểu hiện nôn nhiều, đôi khi phù, có protein niệu.

– Bụng to nhanh.

– Không thấy thai máy.

2.1.2. Thực thể

– Toàn thân: mệt mỏi, biểu hiện thiếu máu.

– Tử cung mềm, kích thước tử cung lớn hơn tuổi thai (trừ trường hợp Thai trứng thoái triển).

– Không sờ được phần thai.

– Không nghe được tim thai.

– Nang hoàng tuyến xuất hiện trong 25-50%, thường gặp cả 2 bên.

– Khám âm đạo có thể thấy nhân di căn âm đạo, màu tím sẫm, thường ở thành

trước, dễ vỡ gây chảy máu.

– Có thể có dấu hiệu tiền sản giật (10%)

– Có thể có triệu chứng cường giáp (10%)

– Tuy nhiên do hiên nay việc chẩn đoán Thai trứng thường rất sớm với tuổi thai trung bình là 9 tuần so với trước kia là khoảng 13 tuần , và có xu hướng ngày càng sớm hơn nên các triệu chứng lâm sàng ngày càng không điển hình như đã nêu trên.

2.2. Cận lâm sàng

2.2.1. Siêu âm: trên siêu âm thấy hình ảnh tuyết rơi hoặc lỗ chỗ như tổ ong, có thể thấy nang hoàng tuyến hai bên, không thấy phôi thai (Thai trứng toàn phần). Trong chửa trứng bán phần thì khó phân biệt hơn với thai lưu, có thể thấy một phần bánh nhau bất thường .

2.2.2. Định lượng E-hCG: là xét nghiệm cơ bản để chẩn đoán và theo dõi chửa trứng. Lượng E-hCG tăng trên 100 000mUI/ml.

2.2.3. Định lượng estrogen: trong nước tiểu estrogen dưới dạng các estrone,

estradiol hay estriol đều thấp hơn trong thai thường, do sự rối loạn chế tiết của nhau và do không có sự biến đổi estradiol và estriol xảy ra ở tuyến thượng thận của thai nhi. Nhưng ít ý nghĩa và không sử dụng trong thực tế vì sự khác biệt này chỉ thấy rõ khi tuổi thai từ 14 tuần trở lên.

2.2.4..Xét nghiệm định lượng HPL: (Human placental lactogen), thường cao

trong thai thường, nhưng rất thấp trong Thai trứng.

2.2.5. Giải phẫu bệnh

– Đại thể: có 2 loại thai trứng:

+ Thai trứng toàn phần: toàn bộ gai nhau phát triển thành các nang trứng.

+ Thai trứng bán phần: bên cạnh các nang trứng còn có mô nhau thai bình

thường, hoặc có cả phôi, thai nhi thường chết trong giai đoạn 3 tháng đầu.

Đường kính nang trứng từ 1-3mm. Các nang trứng dính vào nhau như những bọc trứng ếch hoặc chùm nho.

Trong Thai trứng, buồng trứng bị ảnh hưởng bởi hormon EhCG. Nang hoàng tuyến xuất hiện ở một hoặc hai bên buồng trứng. Đường kính từ vài cm đến vài chục cm, trong chứa dịch vàng. Nang hoàng tuyến thường có nhiều thuỳ, vỏ nang mỏng và trơn láng.

– Vi thể: các gai nhau phù và thoái hóa nước trục liên kết, không còn các tế bào xơ, sợi và các huyết quản. Trục liên kết chứa dịch trong. Các nguyên bào nuôi quá sản nhiều hàng (hình thái giống các nguyên bào nuôi bình thường tuy nhiên cũng có thể gặp một số nguyên bào nuôi có nhân không điển hình hoặc các hình nhân chia), mất cân đối giữa tỷ lệ hợp bào nuôi và nguyên bào nuôi. Hình thành các đám nguyên bào nuôi tự do. Trong Thai trứng bán phần, ngoài các hình ảnh gai nhau thoái hóa trục liên kết và quá sản nguyên bào nuôi còn gặp các gai nhau có hình thái bình thường.

2.3. Chẩn đoán xác định

Chủ yếu dựa vào hình ảnh siêu âm và nồng độ E-hCG

2.4. Chẩn đoán phân biệt

– Triệu chứng ra máu âm đạo cần phân biệt với:

+ Doạ sẩy thai thường: tử cung không to hơn tuổi thai, lượng E-hCG không cao.

+ Thai ngoài tử cung: ra máu âm đạo, tử cung nhỏ, có khối cạnh tử cung đau.

+ Thai chết lưu: tử cung nhỏ hơn tuổi thai, EhCG thấp, vú có tiết sữa non. Có thể nhầm với chửa trứng bán phần, chỉ phân biệt được nhờ giải phẫu bệnh.

– Tử cung lớn cần phân biệt với:

+ U xơ tử cung to rong huyết

+ Thai to

+ Đa thai

– Triệu chứng nghén phân biệt với nghén nặng trong thai thường, đa thai.

3.1. Nạo hút trứng: nạo hút trứng ngay sau khi được chẩn đoán để đề phòng sẩy tự nhiên gây băng huyết.

Kỹ thuật: hút trứng + truyền oxytocin + kháng sinh.

– Thường dùng máy hút dưới áp lực âm để hút nhanh, đỡ chảy máu.

– Trong khi hút phải truyền tĩnh mạch dung dịch Glucose 5% pha với 5 đơn vị

Oxytocin để giúp tử cung co hồi tốt, tránh thủng tử cung khi nạo và cầm máu.

– Có thể nạo lại lần 2 sau 2 – 3 ngày nếu lần thứ nhất không đảm bảo hết trứng.

Ngày nay, dưới hướng dẫn, kiểm tra của siêu âm thường nao sạch ngay trong lần đầu.

– Sau nạo phải dùng kháng sinh chống nhiễm trùng.

– Gửi tổ chức sau nạo làm xét nghiệm giải phẫu bệnh.

Hiện nay do thường được phát hiện sớm nên thai nhỏ có thể hút bằng xylanh Karman như hút thai thường, tốt nhất là hút dưới hướng dẫn của siêu âm, đảm bảo sạch và an toàn nên chỉ cần hút một lần và chỉ dùng thêm thuốc co hồi tử cung khi có chảy máu (một số tác giả cho rằng việc dùng Oxytocin hay misoprostol làm tăng co bóp tử cung có thể dẫn đến sự khuếch tán các nguyên bào nuôi và làm tăng tỷ lệ u nguyên bào nuôi).

3.2. Phẫu thuật cắt tử cung dự phòng

Cắt tử cung toàn phần cả khối hoặc cắt tử cung toàn phần sau nạo hút trứng thường được áp dụng ở các phụ nữ không muốn có con nữa hoặc trên 40 tuổi và trường hợp chửa trứng xâm lấn làm thủng tử cung.

3.3. Theo dõi sau nạo trứng

– Lâm sàng:

+ Toàn trạng, triệu chứng nghén, triệu chứng ra máu âm đạo, sự nhỏ lại của nang hoàng tuyến và sự co hồi tử cung.

– Cận lâm sàng:

+ Định lượng βhCG mỗi tuần một lần cho đến khi âm tính 3 lần liên tiếp. Sau

đó định lượng mỗi tháng một lần cho đến hết 12 tháng.

+ Siêu âm: tìm nhân di căn, theo dõi nang hoàng tuyến.

– Tiến triển bệnh lý: những tiến triển không tương ứng với các tiêu chuẩn lành bệnh được coi là tiến triển không thuận lợi. Bao gồm:

+ Tử cung vẫn to, nang hoàng tuyến không mất đi hoặc xuất hiện nhân di căn.

+ ß-hCG: phương tiện chính để theo dõi và chẩn đoán biến chứng sau loại bỏ thai trứng (bao gồm cả các trường hợp được cắt tử cung dự phòng).

Nồng độ EhCG lần thử sau cao hơn lần thử trước

– Thời gian theo dõi

+ Thời gian theo dõi: 2 năm, ít nhất 12 – 18 tháng.

+ Tránh thai 1 năm và có biện pháp ngừa thai phù hợp.

Băng huyết, thủng tử cung, biến chứng ung thư nguyên bào nuôi.

– Tăng cường sức khoẻ, cải thiện yếu tố xã hội, nâng cao mức sống, sức đề kháng.

– Đề phòng các diễn biến xấu của bệnh.

– Theo dõi định kỳ và đầy đủ, nhằm phát hiện sớm biến chứng của bệnh.

HƯỚNG DẪN CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ CÁC BỆNH SẢN PHỤ KHOA (Ban hành kèm theo Quyết định số 315/QĐ-BYT ngày 29/01/2015)

Leave a reply →

Phòng Khám Sản Phụ Khoa Ngọc Châu

BS. TRẦN THỊ MINH CHÂU

Bạn có biết: Khả năng có thai tự nhiên của một cặp vợ chồng trẻ trong một tháng chỉ từ 25%-30%. Điều này nôm na nghĩa là trong 1 tháng, nếu có 10 cặp vợ chồng trẻ, hoàn toàn khỏe mạnh và mong muốn sinh con thì chỉ từ 2 đến 3 cặp vợ chồng là có tin vui mà thôi.

Vậy chế độ ăn như thế nào giúp chị em phụ nữ dễ có thai?

🌺

🌺

Chế độ ăn cung cấp đủ năng lượng kết hợp tập thể dục thường xuyên. Tránh thừa cân hoặc béo phì vì phụ nữ béo phì có khả năng rụng trứng và thụ thai thấp hơn phụ nữ có cân nặng vừa phải.

🌺

🌺

Kiêng các chất có khả năng gây hại cho thai kỳ (ví dụ: thuốc lá, rượu, thuốc an thần, sử dụng lượng caffeine quá nhiều).

🌺

🌺

Nên bổ sung các chất sau trong chế độ ăn hằng ngày:

🍀

Axít folic.

Axít folic rất quan trọng để sản xuất tế bào trứng và tinh trùng. Đây là một chất rất có ích cho quá trình thụ thai. Liều khuyến cáo hàng ngày là 0,4-0,8 mg. Axít folic có ở đâu? Các loại rau có lá màu xanh đậm, măng tây, bông cải xanh, đu đủ, cam, bơ, các loại hạt, cải bắp, các loại đậu, đậu bắp, súp lơ, củ cải đường, ớt chuông.

Phụ nữ dùng viên uống vitamin tổng hợp có chứa axit folic có thời gian mong con ngắn hơn phụ nữ có chế độ ăn thiếu axit folic. Nếu cần phải thụ tinh trong ống nghiệm thì những phụ nữ có chế độ ăn 0,8 mg axít folic mỗi ngày có khả năng thụ thai cao hơn so với những người ăn ít hơn 0,4 mg axít folic.

🍀

Vitamin D.

Bạn có biết: khoảng 46% phụ nữ Việt Nam thiếu vitamin D ở mức báo động, trong khi đó nam giới cũng có khoảng 20% thiếu vitamin D, mặc dù Việt Nam là một quốc gia nhiệt đới giàu ánh nắng mặt trời. Vitamin D có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của bạn, có ý nghĩa quan trọng đối với phụ nữ mong con, đang mang thai hoặc cho con bú. Mức vitamin D cực thấp (<20 ng/mL): nguy cơ sẩy thai tự nhiên tăng.

🍀

Tinh bột.

Tinh bột trong chế độ ăn uống ảnh hưởng đến chuyển hóa đường trong cơ thể, và có thể ảnh hưởng đến sinh sản. Phụ nữ thừa cân, béo phì, có bệnh lý đái tháo đường hoặc mắc hội chứng buồng trứng đa nang cần được bác sĩ tư vấn về chế độ ăn và tập thể dục. Ngũ cốc nguyên hạt có tác dụng chống oxy hóa và cũng cải thiện chuyển hóa đường trong cơ thể, do đó ảnh hưởng tích cực đến sinh sản.

🍀

Omega-3.

Axit béo omega-3 có nhiều trong cá hồi, cá ngừ nhỏ (mackerel), cá mòi, cá cơm và cá trích. Bổ sung omega-3 tăng khả năng mang thai và sinh con cho chị em phụ nữ. Các loại cá cũng đã được chứng minh là có tác dụng tích cực đến khả năng sinh sản. Tuy nhiên, một số loại cá có hàm lượng thủy ngân cao không nên dùng như: cá thu lớn, cá ngừ lớn (albacore), cá kiếm, cá mó (tile fish), cá tráp cam, cá mập (hình bên dưới).

🍀

Tóm lại: Một chế độ ăn uống cân bằng: nhiều trái cây, rau, cá và dầu ô liu đã được chứng minh là có ích cho những phụ nữ đang mong con. Những viên uống bổ sung vitamin không thể thay thế hoàn toàn nguồn thực phẩm tự nhiên hằng ngày mà bạn sử dụng. Phụ nữ đang mong con cần có chế độ ăn và tập thể dục hợp lý, duy trì cân nặng lý tưởng để tăng khả năng rụng trứng đều đặn và tăng khả năng mang thai.

Nguồn:

Medscape: “Food and Fertility: What Should Women Consume When Trying to Conceive?”

ACOG: “Nutrition During Pregnancy”

Thân chào!

Tại Sao Ngày Càng Nhiều Trường Hợp Sản Phụ Sinh Đôi Và Đây Là Câu Trả Lời Của Bác Sĩ Khoa Sản

Sinh đôi được xem là một chuyện may mắn của nhiều gia đình. Đặc biệt là những gia đình thích đông con.

“Làm mẹ của cặp sinh đôi là chuyện rất may mắn đối với tôi. Mỗi khi nhìn cả hai bé giống nhau như khuôn đúc đều khiến tôi cảm giác vui sướng trong lòng, giống như tôi trúng được giải đặc biệt mà hiếm người có được. Thế nhưng sau 1 tháng, tôi nghe tin chị họ và người bạn thân của tôi đều sinh đôi, tôi cảm thấy rất kinh ngạc, bởi tôi luôn nghĩ tỉ lệ mang đa thai và sinh đôi rất hiếm. Cớ sao những người xung quanh tôi đều sinh đôi thế nhỉ?”.

Thực tế, gần đây trường hợp mẹ sinh đôi không còn là chuyện hiếm. Tại sao có trường hợp này và đây là câu trả lời của bác sĩ khoa sản.

1. Tuổi của người mẹ

Sinh đôi có 2 hình thái là song sinh cùng trứng và song sinh khác trứng.

Song sinh khác trứng là hiện tượng hai quả trứng cùng rụng một lúc và thụ thai với hai tinh trùng hoàn toàn riêng biệt trong cùng một đợt.

Song sinh cùng trứng là hiện tượng một trứng thụ tinh với một tinh trùng, tạo nên một hợp tử. Hợp tử này sẽ tiếp tục phân chia làm hai phần ngay sau quá trình thụ tinh để phát triển thành hai cá thể riêng biệt.

Thông thường, mỗi lần phụ nữ chỉ rụng 1 trứng, nhưng theo độ tuổi ngày càng tăng thì khả năng kiểm soát việc rụng trứng sẽ giảm, kèm theo đó là hormone mất cân bằng dẫn đến khả năng rụng hai quả trứng cùng lúc. Đó cũng là lý do nhiều sản phụ cao tuổi tăng dễ mang đa thai và sinh đôi.

2. Y học tiến bộ

Đối với những gia đình khó khăn trong việc mang thai sẽ nhờ cậy đến sự giúp đỡ của y học để việc thụ thai trở nên dễ dàng. Do đó, thụ tinh trong ống nghiệm là phương pháp tối ưu gúp các cặp vợ chồng dễ có thai và sinh ra những thiên thần.

Dưới sự hỗ trợ của các kỹ thuật y khoa, đưa một trứng đã được thụ tinh vào tử cung của người phụ nữ. Trứng có thể phân chia làm hai và hình thành song bào thai cùng trứng. Đó là nguyên nhân những sản phụ tiến hành phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm dễ mang đa thai và sinh đôi.

3. Yếu tố di truyền

Nếu sản phụ có chị em sinh đôi hoặc trong gia đình có chị hay em sinh đôi thì khả năng mang thai đôi cũng tăng cao. Ngoài ra, nếu cả bên nội lẫn bên ngoại đều đã có trường hợp sinh đôi thì khả năng chị em mang song thai sẽ tăng lên.

Lén Lút Tráo Đổi Tinh Trùng, Bác Sĩ Khoa Sản Khiến Ít Nhất 17 Phụ Nữ Mang Thai Cho Mình

Một bác sĩ khoa sản ở Hà Lan đã lén lút thay thế tinh trùng của người hiến tặng bằng của mình, khiến ít nhất 17 phụ nữ sinh con cho ông mà không hề hay biết.

Một bác sĩ khoa sản ở Hà Lan đã lén lút thay thế tinh trùng của người hiến tặng bằng của mình, khiến 17 phụ nữ sinh con cho ông mà không hề hay biết. Sự việc chỉ bị vỡ lở sau khi một trong những đứa trẻ lớn lên và kiểm tra ADN, nhưng lúc này người bác sĩ đã qua đời từ lâu.

Theo thông tin từ truyền thông Anh, bác sĩ trên tên là Jan Wildschute, làm việc tại Bệnh viện Sofia ở Zwolle, Hà Lan từ năm 1981-1993, nay được đổi tên thành Bệnh viện Issara.

Bệnh viện Issara cho biết trong một thông báo hôm 6/10 rằng, Wildschutey đã có ít nhất 17 đứa con được sinh ra nhờ thụ tinh nhân tạo, và mẹ của những đứa trẻ vẫn luôn cho rằng con họ đến từ những người hiến tặng ẩn danh.

Bệnh viện nói hành vi của bác sĩ Wildschute là “không thể chấp nhận được về mặt đạo đức”, đồng thời cho biết không rõ ông có còn nhiều con hơn nữa hay không vì hồ sơ lưu giữ trong bệnh viện không cung cấp nhiều chi tiết.

Tuy nhiên, họ đã tạo một tệp ADN cho Wildschute để những đứa trẻ khác được sinh ra bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo tại bệnh viện có thể kiểm tra xem vị bác sĩ này có phải là bố ruột của chúng hay không.

Truyền thông cho biết vụ việc lần đầu tiên được phát hiện bởi một trong những đứa trẻ sau khi trưởng thành. Thông qua cơ sở dữ liệu ADN, người này thấy rằng mình trùng khớp với ADN của cháu gái Wildschute.

Một người mẹ giấu tên nói với truyền thông: “Chúng tôi chưa bao giờ nghĩ rằng ông ấy lại là người hiến tặng tinh trùng”. Bà nhớ lại trong phòng khám, Wildschute gây ấn tượng về sự thân thiện và trung thực.

Bệnh viện cho biết hiện tại, những đứa con của Wildschute được sinh ra bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo (đã qua xét nghiệm ADN) vẫn giữ liên lạc và duy trì mối quan hệ tốt đẹp với nhau.

Những đứa trẻ quyết định công khai sự việc vì họ muốn tránh những quan hệ ngoài ý muốn giữa anh chị em cùng cha khác mẹ.

Bạn đang xem bài viết Sản Phụ Khoa Phúc Thiện trên website Ieecvn.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!