Xem Nhiều 1/2023 #️ Những Loại Vitamin Cho Bà Bầu Không Thể Thiếu Trong Thai Kỳ # Top 1 Trend | Ieecvn.com

Xem Nhiều 1/2023 # Những Loại Vitamin Cho Bà Bầu Không Thể Thiếu Trong Thai Kỳ # Top 1 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Những Loại Vitamin Cho Bà Bầu Không Thể Thiếu Trong Thai Kỳ mới nhất trên website Ieecvn.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Những loại vitamin cho bà bầu không thể thiếu trong thai kỳ

Bổ sung DHA cho bà bầu như thế nào là hợp lý?

Vitamin tổng hợp cho bà bầu loại nào tốt nhất?

Chuyên gia hướng dẫn bổ sung sắt trong thai kỳ bằng thuốc sắt cho bà bầu

Các loại vitamin cho bà bầu cần thiết nhất, phải kể đến là:

Vitamin A

Vitamin A giữ vị trí quan trọng trong việc giúp thai nhi phát triển thị lực, hệ miễn dịch, các tế bào não và các cơ quan nội tạng… Thiếu vitamin A sẽ khiến mẹ bầu có nguy cơ sinh non, sinh con thiếu cân hay gặp phải những vấn đề về răng khớp.

Tuy nhiên, việc thừa vitamin A cũng lại gây nhiều ảnh hưởng đến mẹ bầu và thai nhi, do đó việc bổ sung loại vitamin này cần đến sự tư vấn của bác sĩ.

Vitamin A có nhiều trong các loại rau có màu xanh thẫm như rau muống, rau dền, rau ngót,… và trong các loại quả chín có màu vàng và đỏ như xoài, đu đủ, hồng, cà chua, khoai lang… Gan, chất béo, sữa, lòng đỏ trứng, dầu cá… cũng là những thực phẩm chứa vitamin A dồi dào cho bà bầu trong suốt các giai đoạn thai kỳ.

    Vitamin B1

    Vitamin B1 có tác dụng lớn trong việc chuyển hóa glucid. Thiếu B1 có thể khiến mẹ bầu cảm thấy mệt mỏi.

    Hãy ăn các loại ngũ cốc và hạt đậu để cung cấp lượng vitamin B1 cần thiết cho cơ thể khi mang bầu.

      Vitamin B2

      Tham gia vào quá trình tạo máu, việc thiếu hụt vitamin B2 sẽ khiến cho máu ngược sắc, gây ra các tổn thương ở da, niêm mạc vùng miệng, mũi và dễ  gây sẩy thai. Vitamin B2 có nhiều trong các thức ăn từ động vật, sữa, các loại rau và đậu…

        Vitamin B6

        Một trong những loại vitamin cho bà bầu tốt nhất chính là vitamin B6. Vitamin B6 tham gia vào quá trình tái tạo tế bào và hồng cầu, chống lại bệnh thiếu máu đồng thời giúp củng cố hệ miễn dịch và tác động đến hệ thần kinh.

        Các mẹ bầu sẽ bị thiếu máu, tổn thương hệ thần kinh và có triệu chứng mất ngủ nếu thiếu loại vitamin quan trọng này. Tuy nhiên cơ thể chỉ cần một lượng rất nhỏ loại vitamin này hàng ngày, do đó thi thoảng ăn lúa mạch, khoai tây, cà chua, dưa hấu, bơ, chuối, súp lơ, sữa + sữa chua, trứng, thịt bò, đậu, gà và cá thu…là đã đủ để cung cấp vitamin B6 cho cơ thể mẹ bầu rồi.

          Vitamin B9 (axit folic)

          Vitamin B9 hay còn được biết với cái tên phổ biến hơn là axit folic. Thiếu loại acid này có thể dẫn đến những trường hợp dị tật thai nhi và tăng nguy cơ sẩy thai.

          Mức axit folic cần thiết trong giai đoạn đầu của thai kỳ là 400mcg đến 600mcg, có trong nhiều các loại rau lá xanh, trái cây và ngũ cốc nguyên hạt…

            Vitamin C

            Muốn cơ thể hấp thụ sắt không thể thiếu vitamin C. Để nâng cao sức đề kháng của cơ thể cũng vậy. Thiếu hụt vitamin C có thể khiến mẹ bầu bị vỡ màng ối sớm. Đó chính là lý do các mẹ bầu cần bổ sung vitamin C bằng cách ăn nhiều cam, chanh, xoài, ổi, dâu tây, súp lơ,.. mỗi ngày.

              Vitamin D

              Giúp thai nhi có hệ xương khoẻ mạnh và mẹ bầu tránh được nguy cơ loãng xương, vitamin D là không thể thiếu trong quá trình mang thai của người mẹ.

              Việc thiếu hụt vitamin D còn có thể khiến mẹ bầu mắc các bệnh như tiền sản giật, tiểu đường, sinh non hoặc sẩy thai.

              Mẹ có thể bổ sung vitamin D bằng cách phơi nắng sớm, qua việc ăn các loại ngũ cốc nguyên hạt, rau xanh, trái cây, đậu và đặc biệt là hạnh nhân, đậu nành, cá hồi, bông cải xanh, nước cam, sữa, lòng đỏ trứng gà…

                Vitamin E

                Vitamin E làm giảm tỷ lệ sinh non hoặc sẩy thai. Đồng thời, đây chính là chất chống ô xy hoá giúp mẹ bầu tăng khả năng miễn dịch và bảo vệ làn da. Lượng vitamin E tiêu chuẩn mỗi ngày nên là 15mcg, không nên thừa cũng không có lợi.

                Mẹ bầu nên bổ sung vitamin E bằng cách ăn các loại giá đỗ, vừng, lạc, đậu tương, mầm lúa mạch, hạt hướng dương, dầu ô-liu,…

                TPBVSK viên bổ sung PreIQ chứa DHA, EPA, các vitamin và khoáng chất cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng tăng cao cho phụ nữ dự định mang thai, trong quá trình mang thai và khi cho con bú giúp tăng cường sức khỏe.

                Thông tin chi tiết vui lòng truy cập preiq.vn hoặc gọi hotline 19006436 để được tư vấn trực tiếp.

                Số GPQC: 1831/2015/XNQC-ATTP

                Sản xuất & chịu trách nhiệm về sản phẩm: Công ty Cổ phần Dược phẩm Gia Nguyễn. Địa chỉ: Đường YP6, KCN Yên Phong, Đông Phong, Yên Phong, Bắc Ninh

                Thực phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh.

                Chế Độ Liều Bổ Sung Khi Thiếu Vitamin D Trong Thai Kỳ

                31/05/2019

                Chế độ liều bổ sung khi thiếu vitamin D trong thai kỳ

                Ds. Nguyễn Tấn Xuân Trang (lược dịch)

                Khoa Dược – Bệnh viện Từ Dũ

                Nhìn chung, bằng chứng về việc bổ sung vitamin D trong thai kỳ vẫn còn thiếu. Lợi ích của việc bổ sung vitamin D để cải thiện kết cục ở mẹ và trẻ sơ sinh trong thai kỳ hiện vẫn chưa rõ ràng và bằng chứng trực tiếp về việc bổ sung vitamin D trong thai kỳ để ngăn ngừa bệnh còi xương ở trẻ sơ sinh còn hạn chế. Các nghiên cứu về vấn đề này được thực hiện khá nhiều nhưng đa số ở quy mô nhỏ, chất lượng thấp và hiếm khi được thiết kế để đánh giá kết cục lâm sàng. Do đó, chúng thường có những mâu thuẫn hoặc không nhất quán có thể là do sự không đồng nhất trong thiết kế, thời gian can thiệp, liều lượng bổ sung, dân số và kết cục nghiên cứu. Tuy nhiên, vai trò của vitamin D trong việc chuyển hóa canxi và phòng ngừa bệnh còi xương và phòng ngừa hạ canxi máu ở trẻ sơ sinh vẫn cần được cân nhắc.

                Một số điểm tóm tắt:

                • Phụ nữ nên dự trữ đủ lượng vitamin D để đáp ứng nhu cầu cho bản thân, cho thai nhi đang phát triển và để dự trữ cho thai nhi đặc biệt là khi cho con bú.

                • Khi mang thai, thiếu vitamin D ở mẹ (được định nghĩa ở đây là dưới 30 nmol/L) có thể dẫn đến thiếu hụt ở trẻ sơ sinh.

                • Xét nghiệm: Không có sự đồng thuận về việc chính xác phụ nữ mang thai nào nên kiểm tra thiếu vitamin D (hoặc mức độ tối ưu nên có trong thai kỳ) nhưng có một lập luận rằng một số nhóm phụ nữ mang thai nên làm xét nghiệm sàng lọc như là nhóm người da màu hoặc béo phì. Nếu một phụ nữ mang thai được kiểm tra sự thiếu hụt và được phát hiện là thiếu thì sự thiếu hụt cần được điều trị.

                • Liều điều trị sự thiếu hụt (vitamin D < 30nmol/L): Sử dụng liều uống 2.000 – 4.000 đơn vị/ ngày trong tối đa 11 tuần để cung cấp liều tích lũy khoảng 150.000 hoặc 300.000 đơn vị trong tam cá nguyệt thứ 2 hoặc thứ 3 thai kỳ. Việc điều trị nên bắt đầu trong tam cá nguyệt thứ 2 hoặc thứ 3 vì thiếu dữ liệu an toàn trong tam cá nguyệt thứ nhất và vì phần lớn sự tăng trưởng và phát triển của xương thường xảy ra trong tam cá nguyệt thứ 2 hoặc thứ 3. Để bổ sung thường quy, khuyến cáo hiện tại khuyên dùng 10mcg (400 đơn vị) mỗi ngày ở tất cả phụ nữ mang thai.

                • Liều điều trị nhanh: Chưa có sự đồng thuận về mức vitamin D rất thấp nhưng đa số các nhà lâm sàng cho rằng dưới 15 nmol/L sẽ được xem là rất thấp. Nếu mức vitamin D cơ bản rất thấp và người phụ nữ đang trong tam cá nguyệt thứ 3 thì có thể cần phải điều trị nhanh, đặc biệt nếu có kèm các yếu tố nguy cơ không thể thay đổi. Trong những trường hợp này, có thể sử dụng liều cao hơn 4.000 đơn vị/ ngày (nhưng không quá 10.000 đơn vị/ ngày). Ví dụ về các liều có thể được sử dụng trong điều trị nhanh như 7.000 đơn vị/ ngày trong 6-7 tuần hoặc 10.000 đơn vị/ ngày trong 4-5 tuần để cung cấp liều tích lũy khoảng 300.000 đơn vị. Trong một số trường hợp, cũng có thể sử dụng liều 20.000 đơn vị/ tuần như RCOG gợi ý, mặc dù cần lưu ý rằng bằng chứng cho khuyến cáo này không rõ ràng.

                • Các yếu tố khác: Khi lựa chọn chế độ liều, bác sĩ kê đơn cũng cần tính đến: mức độ nghiêm trọng của tình trạng thiếu hụt, các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi, khả năng tuân thủ, thời gian trong năm và các chế phẩm có trên thị trường.

                • Chế phẩm: Thiếu vitamin D trong thai kỳ nên được bổ sung các chất dưới dạng Colecalciferol hoặc Ergocalciferol. Các bác sĩ kê đơn cũng nên lưu ý hầu hết các chế phẩm bổ sung vitamin trước sinh cũng có chứa liều bổ sung vitamin D (thường là 400 đơn vị mỗi liều). Nên tránh các chế phẩm chứa vitamin A (như dầu gan cá) vì đây là một chất gây dị tật thai nhi.

                • Lượng canxi bổ sung: Phụ nữ mang thai nên cố gắng duy trì lượng canxi đầy đủ (700 mg/ ngày) thông qua chế độ ăn uống.

                • Không nên sử dụng thường quy các chế phẩm chứa canxi và vitamin D để điều trị tình trạng thiếu vitamin D trong thai kỳ. Có thể phối hợp bổ sung vitamin D và canxi ở phụ nữ có nguy cơ tiền sản giật cao.

                TÀI LIỆU THAM KHẢO: “Which oral vitamin D dosing regimens can be used to correct deficiency in pregnancy?” – Prepared by UK Medicines Information  pharmacists for NHS healthcare professionals.

                Những Loại Rau Quả Bà Bầu Không Nên Ăn Trong Thai Kỳ

                Bước vào thai kỳ đồng nghĩa với các bà bầu phải cực kỳ chú trọng bữa ăn của mình. Bởi vì chir cần những sơ suất nhỏ do thiếu hiểu biết cũng có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng, khôn lường. Rau quả thực sự là loại thức ăn vô cùng tốt cho bà bầu. Nói như vậy, không phải loại rau nào cũng nên có trong khẩu phần ăn. Đặc biệt có những loại rau không nên tùy tiện ăn và nên tránh xa hoặc hạn chế ăn.

                Các loại rau bà bầu không nên ăn

                1. Mướp đắng: Mướp đắng là thực phẩm tốt cho sức khoẻ và cũng là một loại thảo dược chữa bệnh. Hàm lượng folate trong mướp đắng là rất cần thiết cho thai kỳ vì mục đích là để tránh khuyết tật về ống thần kinh cho trẻ sơ sinh. Mướp đắng có chứa vitamin C làm tăng sức đề kháng cho phụ nữ mang thai và bảo vệ cơ thể bà bầu khỏi các chất độc. Hơn nữa, mướp đắng cũng giàu vitamin B, một số chất như sắt, kẽm, kali, mangan, magiê đóng một phần quan trọng trong việc giữ gìn sức khỏe của phụ nữ mang thai và thai nhi phát triển.

                Mặc dù tất cả các nghiên cứu không cho kết quả rõ ràng rằng chất đắng trong mướp đắng có thể gây hại cho bào thai. Tuy nhiên, thử nghiệm với chuột cho thấy, việc sử dụng mướp đắng với liều cao có thể gây ra dị dạng bào thai chuột. Vì vậy, các nhà khoa học khuyên phụ nữ mang thai không nên ăn mướp đắng. Ngoài ra, chất Vicine trong hạt của mướp đắng có thể gây ngộ độc cho một số cơ quan nhạy cảm. Vì vậy, trẻ em và phụ nữ mang thai nên tránh ăn hạt của mướp đắng. Khi nấu, bạn nên loại bỏ hoàn toàn hạt mướp đắng.

                2. Rau sam: Rau sam là một loại rau dễ trồng, dễ chăm sóc và tìm vì chúng mọc hoang nhiều. Rau sam ngoài tác dụng là thảo dược chữa bệnh, nó còn là thực phẩm để ăn. Rau sam có tính hàn, lạnh. Thực tế cho thấy khi phụ nữ mang thai ăn nhiều rau sam, nó sẽ kích thích tử cung mạnh. Hậu quả là có thể dẫn đến sẩy thai.

                4. Rau ngót: Rau ngót có thể gây ra hiện tượng co thắt cơ trơn tử cung và dẫn đến sẩy thai, tiêu chảy vì lá rau ngót có chứa chất Papaverin. Vì vậy, nếu bạn sử dụng hơn 30 gram lá rau ngót tươi, bạn sẽ có nguy cơ cao bị sẩy thai.

                5. Rau chùm ngây (còn gọi là rau cải ngựa): Rau chùm ngây có tên khoa học là Moringa oleifera. Loại rau này được biết đến và sử dụng hàng ngàn năm nay ở Hy Lạp, Ấn Độ và Italia. Theo các nghiên cứu khoa học, lá và hoa của chùm ngây có lượng vitamin C cao hơn 7 lần so với cam. Về canxi, chùm ngây nhiều hơn 4 lần so với sữa; về protein, nó nhiều gấp hai lần sữa. Chùm ngây nhiều hơn 4 lần so với cà rốt về vitamin A, hơn 3 lần chuối về kali.

                6. Rau răm: Trong 3 tháng đầu của thai kỳ, phụ nữ mang thai nên hạn chế ăn rau răm vì ăn rau răm nhiều sẽ dẫn đến thiếu máu. Ngoài ra, rau răm chứa chất gây ra tình trạng tử cung co thắt và hậu quả là, nó sẽ dẫn đến sẩy thai. Do đó, phụ nữ mang thai không nên quá nhiều rau răm nhưng có thể ăn trứng vịt lộn với một vài cọng rau răm thì nó không gây ra bất kỳ vấn đề gì.

                1. Trái dứa: Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, trong 3 tháng đầu của thai kỳ, phụ nữ mang thai không nên ăn và không nên uống nước dứa tươi hoặc nước ép dứa lon vì loại trái cây có thể gây co thắt tử cung và dẫn đến sẩy thai, tiêu chảy hoặc dị ứng cho phụ nữ mang thai. Nguyên nhân là do dứa tươi có chứa Bromelain có thể làm cho tử cung trở nên mềm và tạo ra các chất có thể tiêu diệt bào thai.

                2. Nhãn: Theo đông y, nhãn có vị ngọt. Nhiều người thích ăn nhãn nhưng phụ nữ mang thai không nên ăn loại trái cây này nhiều. Lý do là phụ nữ mang thai ăn nhiều nhãn thường có hiện tượng nóng trong, động thai, chảy máu và đau bụng, thậm chí có thể gây hại cho thai nhi và tăng nguy cơ sẩy thai.

                Khác với đu đủ xanh, đu đủ chín rất tốt cho phụ nữ mang thai. Vì vậy, các bà mẹ không nên kiêng ăn đu đủ chín như đu đủ xanh.

                Lưu ý dành cho phụ nữ mang thai khi ăn trái cây

                Phụ nữ mang thai không nên ăn một trong số các loại trái cây được liệt kê ở trên. Bên cạnh đó, phụ nữ mang thai cần chú ý đến việc ăn các loại trái cây khác để đảm bảo an toàn và cung cấp chất dinh dưỡng cho cơ thể:

                Không sử dụng trái cây để thay thế cho các bữa ăn chính: Nhiều phụ nữ mang thai sử dụng trái cây để thay thế bữa ăn chính. Đây là thói quen ăn uống phản khoa học. Nguồn chất dinh dưỡng trong trái cây là rất cao nhưng nó không thể thay thế cho thịt, cá và cơm.

                Bà bầu bị nghén không nên ăn nhiều trái cây: Trong thời gian đầu của thai kỳ, nhiều bà bầu bị nghén và không muốn ăn bất kỳ thực phẩm nào, vì vậy họ thường ăn nhiều trái cây để thay thế. Tuy nhiên, các loại trái cây có chứa hàm lượng đường có thể gây tăng glucose bất thường trong thai kỳ và gây ra bệnh tiểu đường khi mang thai.

                Phụ nữ mang thai không nên ăn chuối khi đói: Chuối chứa nhiều magiê. Nếu phụ nữ mang thai ăn loại trái cây này khi đói, nó sẽ phá hủy sự cân bằng của magiê và canxi trong máu và hậu quả sẽ có tác động xấu đến tim.

                Những món ăn khoái khẩu của bạn có thể bị cắt giảm, những thứ rau quả quen thuộc cũng cần tránh xa. Có lẽ đó là những hy sinh đầu tiên để có thể trở thành một người mẹ tốt nhất. Vì vậy, vì sức khỏe bản thân và con yêu hãy sử dụng các loại rau quả khoa học nhất.

                Những Loại Rau Bà Bầu Không Nên Ăn Trong Thời Kỳ Mang Thai

                Đây là loại rau có tác dụng xoa dịu những cơn đau cơ, giúp tuần hoàn máu, giảm cơn đau vùng bụng và được sử dụng trong một số bài thuốc dành cho người bị động thai hay sảy thai liên tiếp. Tuy nhiên, một số nghiên cứu mới đây cũng cho thấy bà bầu ăn quá nhiều ngải cứu trong ba tháng đầu tăng nguy cơ bị ra máu, co bóp cổ tử cung nên dễ dẫn đến sảy thai hoặc sinh non.

                Măng

                Măng sống hay măng muối chua không phải là món ăn phù hợp với bà bầu. Mẹ nên ăn măng đã được chế biến chín kì để tránh Xyanua, một hợp chất có tròng mãng gây ảnh hưởng tới hệ thần kinh của cá mẹ lẫn bé. Mẹ bầu ăn măng sống nhiều thrờng dễ bị chóng mặt, buồn nôn do nó dễ gây ra ngộ độc đối với cơ thể.

                Súp lơ

                Mặc dù súp lơ xanh có hàm lượng lớn vitamin C rất tốt cho bé nhưng nếu mẹ ăn súp lơ xanh hàng ngày, nhất là khi mới có thai có thể làm tăng nguy cơ bị sảy thai. Lý do là quá nhiều vitamin C cũng không tốt cho chị em trong quá trình mang thai. Cũng giống như súp lơ xanh, nếu ăn quá nhiều súp lơ trắng hàng ngày thì mẹ bầu cũng có nguy cơ sảy thai do hàm lượng vitamin C có trong loại rau này rất cao.

                Rau ngót

                Rau ngót gây hiện tượng co thắt cơ trơn tử cung, tiêu chảy do trong rau ngót tươi có chứa một chất có hàm lượng papaverin nên nếu dùng trên 30 gam lá tươi thì có nguy cơ sảy thai cao. Mẹ nào có tiền sử sảy thai liên tiếp, đẻ non, con quý hiếm thì nên hạn chế ăn canh rau ngót.

                Mướp đắng

                Nguyên nhân là do mướp đắng rất ít chất xơ và chất béo, không phù hợp với chế độ dinh dưỡng của phụ nữ mang thai và cho con bú. Ngoài ra, phụ nữ mang thai ăn mướp đắng có thể gây giảm đường huyết. Hơn nữa, các hạt mướp đắng có chứa một chất tên là vicine – một độc tố có khả năng gây ra hội chứng cấp tính như nhức đầu, đau thắt bụng và hôn mê với những bà bầu nhạy cảm.

                Rau răm

                Là loại rau dễ trồng và thường được dùng kèm trong nhiều món ăn của người Việt Nam, rau răm có vị cay nồng, mùi thơm hắc, tính ấm. Tác dụng của rau răm khi ăn sống thì ấm bụng, giúp tiêu thực, tán hàn. Tuy nhiên, việc sử dụng nhiều rau răm trong 3 tháng đầu thai kì khiến người mẹ dễ bị mất máu, đặc biệt trong rau răm còn có chất khiến tử cung co bóp dẫn đến sảy thai. Vậy nên bà bầu hãy tránh ăn quá nhiều rau răm khi mang chúng tôi sam

                Rau sam

                là loại cây có tính hàn cao. Trong dân gian, rau sam thường được sử dụng làm các món canh thanh nhiệt, giải độc, trừ giun. Tuy nhiên, với những mẹ bầu thì đây lại là thực phẩm nguy hiểm bởi gây kích thích tử cung co bóp mạnh có thể dẫn đến nguy cơ sảy thai rất cao.

                Cải bó xôi

                Cuối cùng cải bó xôi cũng nằm trong danh sách các thực phẩm không dành cho bà bầu. Nguyên nhân đến từ thành phần axit oxalic khiến làm giảm khả năng hấp thu chất sắt của cơ thể. Trong khi cơ thể mẹ bầu vốn rất cần bổ sung sắt để tăng cường lưu thông máu.

                Chính vì vậy, cải bó xôi không thực sự lý tưởng trong thời gian mang thai.

                Khánh Huyền

                Nguồn : http://suckhoe24h.suckhoecongdongonline.vn/nhung-loai-rau-ba-bau-nen-va-khong-nen-an-trong-thoi-ky-mang-thai-a170849.html

                Bạn đang xem bài viết Những Loại Vitamin Cho Bà Bầu Không Thể Thiếu Trong Thai Kỳ trên website Ieecvn.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!